Thứ Hai, 15 tháng 5, 2023

Chiêu thức chống phá mới của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Những năm qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là, chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây.

Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Lợi dụng tình thế đó, chúng sẽ kích động đòi “dân chủ kinh tế”, yêu cầu Đảng, Nhà nước phát triển kinh tế thị trường theo kiểu phương Tây.

Đồng thời, kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Chúng thực hiện chính sách “thân thiện giả hiệu”, thâm nhập sâu vào hoạt động của nền kinh tế, tạo điều kiện, cơ hội tiếp cận rộng rãi với các đối tượng, tầng lớp nhân dân để xây dựng lực lượng, kích động, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại.

Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.

Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Trong đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay.

Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Một trong những chiêu thức vô cùng nguy hiểm mà các thế lực thù địch sử dụng hòng làm chuyển hóa, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là, thúc đẩy hình thành “xã hội dân sự” theo mô thức phương Tây.

Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học,... để tuyên truyền về “xã hội dân sự”, đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trên cơ sở đề cao “xã hội dân sự”, các thế lực thù địch âm mưu phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN, về đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới; làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từng bước hạn chế, tiến tới loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, xây dựng xã hội “dân chủ”, “tự do” theo kiểu phương Tây.

Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đây là những vấn đề rất “nhạy cảm”, luôn được chúng triệt để lợi dụng để xuyên tạc, vu cáo, chống phá ta. Một số nước phương Tây còn áp đặt “dân chủ và bảo vệ nhân quyền” là yếu tố không thể thiếu trong chính sách ngoại giao và quan hệ quốc tế.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam.

Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam.

Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, âm mưu các thế lực thù địch là nhất thiết phải thực hiện “dân chủ” trong đời sống xã hội. Trước hết là thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp đó thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội.

Hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội.

Quá trình “dân chủ hóa” truyền thông là đưa dân chủ vào mạng truyền thông quốc gia và đội ngũ cán bộ, phóng viên báo chí, truyền thông. Con đường xâm nhập để hướng lái truyền thông của các thế lực thù địch là tác động thông qua các hoạt động hợp tác giáo dục, hội thảo, giao lưu, “mượn” các phương tiện truyền thông của Nhà nước, các địa phương, cơ quan, đơn vị để tuyên truyền cho chúng.

Lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.

Ngoài ra, các thế lực thù địch còn tăng cường hoạt động xâm nhập, móc nối, xây dựng nhân tố bên trong để tác động tư tưởng, phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện xâm lăng văn hóa để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta...

Đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Nhận diện vấn đề suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ đến “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay

 Trong bối cảnh thời sự hiện nay, việc các lực lượng thù địch trong nước và ngoài nước luôn tìm cách ngăn cản, phá hoại cuộc cách mạng của nhân dân ta bằng âm mưu “diễn biến hoà bình” đang tìm mọi cơ hội khoét sâu và lợi dụng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự “tự diễn biễn”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ Đảng ta hiện nay. Thực tế điều đó đã và đang diễn ra thậm chí ngày càng nhanh chóng và nguy hiểm, có tác động lớn, liên quan đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. Chính vì vậy, việc thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới luôn là vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Thực  tiễn hiện nay đòi hỏi mỗi chúng ta cần có cách đánh giá nhìn nhận đúng đắn, thẳng thắn chỉ rõ mối quan hệ từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ rất dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ và từ sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ đến “diễn biến hoà bình” sẽ là một bước chuyển rất nhanh chóng và nguy hiểm.

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng ta đã nhận định, vẫn còn “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”.

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu trên một số mặt mà Nghị quyết đề ra. Tại Đại hội XII, Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn…”. Chứng tỏ rằng việc nhận diện và đấu tranh phòng, chống những biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” càng trở nên cấp thiết hơn.

1. Nhận diện những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ:

Thứ nhất, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ tuy xảy ra ở một bộ phận cán bộ, nhưng hiện nay nó đang có những diễn biến, biểu hiện vô cùng phức tạp. Nghiêm trọng nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, phủ nhận thành quả của cách mạng, mơ hồ, hoài nghi về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về khả năng lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Chính phủ. Từ đó tỏ ra bất mãn với chế độ, luôn có tư tưởng đi ngược lại với quan điểm Đảng, ủng hộ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, sẵn sàng từ bỏ con đường Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã chọn, làm phương hại đến lợi ích của Đảng, của dân tộc, thậm chí nói xấu, bôi nhọ những gì thuộc về đất nước mình và luôn ca tụng, tung hô một cách cực đoan những gì thuộc về đất nước khác, nhất là phương Tây. Có thể nói đây là một biểu hiện quan trọng của sự xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị và trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện này đang có xu hướng gia tăng, không dễ ngăn chặn, đẩy lùi.

Tất cả những nhận thức và hành động trên của một bộ phận cán bộ đã làm ảnh hưởng lớn tới uy tín của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đây là mức độ nguy hiểm cao của sự xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Thứ hai, những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống: Bên cạnh sự xuống cấp của một bộ phận cán bộ về tư tưởng chính trị thì sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của đội ngũ này cũng đã và đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng và phạm vi. Trong đó “tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước”. Cá biệt, có những vụ tham nhũng, lãng phí gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm niềm tin của quần chúng vào vai trò của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Không chỉ có tình trạng tham nhũng, hối lộ, một số cán bộ lãnh đạo quản lý lợi dụng chức, quyền để mưu lợi cá nhân, lo thu vén cho cá nhân, gia đình dẫn đến coi nhẹ lợi ích tập thể, cộng đồng. Bệnh cơ hội, tư duy nhiệm kỳ, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng, “một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nắm giữ khối lượng tài sản, nguồn vốn lớn của tập thể, của Nhà nước; đó là môi trường để chủ nghĩa cá nhân vụ lợi, thực dụng phát triển”. Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý lợi dụng chi tiêu công, dùng tài sản công phục vụ mục đích cá nhân; có lối sống hưởng lạc, xa hoa, lãng phí không quan tâm đến đời sống còn khó khăn của nhân dân dẫn đến thói quan liêu, xa dân, lãnh đạm, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc và yêu cầu, đòi hỏi chính đáng của nhân dân, thậm chí đi ngược tâm tư, quyền lợi của nhân dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm tổn hại thanh danh và uy tín của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cũng như sự lựa chọn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Như vậy tình trạng xuống cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ ở nước ta hiện nay đã trở nên rất nghiêm trọng, với nhiều những biểu hiện khác nhau, phạm vi biểu hiện ở nhiều nơi, nhiều cấp, nhiều ngành, thậm chí có biểu hiện còn trở thành “quốc nạn”.

2. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ tất yếu sẽ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Cụm từ “tự diễn biến” lần đầu được chính thức ghi trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X (7/2007) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới và cụm từ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” được nhắc đến trong một số văn kiện của Đảng từ đó đến nay. Mới đây Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khóa XII) đã ra Nghị quyết về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Điều đó khẳng định việc tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với thứ “giặc nội xâm” này.

Từ việc nhận diện những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, có thể nói bước chuyển dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ sẽ là một quá trình tất yếu. Quá trình này diễn ra vô cùng nhanh chóng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khoá XII rằng: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc kết cấu với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Quá trình này sẽ diễn ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn khi nhiễm phải những luận điệu sai trái, những biện pháp dụ dỗ, mua chuộc, kích động của các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị, các phần tử bất mãn.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã chỉ ra biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” mà biểu hiện rõ nhất ở quan điểm, tư tưởng phản bác, phủ nhận những vấn đề chính trị cốt tử của Đảng và thể chế chính trị - xã hội ở nước ta, từ chủ nghĩa Mác – Lênin đến các nguyên tắc tổ chức của Đảng; nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa; nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật, chính sách dân tộc, tôn giáo, đường lối đại đoàn kết dân tộc,… Chính từ những “quan điểm, tư tưởng phản bác” (biểu hiện) đó cuối cùng sẽ đưa tới những hành động sai trái như: đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”; nói, viết, làm trái quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bất mãn, chống đối chính quyền; đặc biệt trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin hiện nay nhiều đối tượng đã lợi dụng các phương tiện truyền thông nhất là mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ, truyền bá tư tưởng phản động,…

Hiện nay để phát hiện ngay được những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ là rất khó bởi vốn nó tự diễn ra trong đầu óc con người nhưng cũng không phải là không thể phát hiện được. Bởi những người mang tư tưởng sai lệch trước sau gì cũng sẽ thể hiện ra những hành vi sai trái và đó chính là cơ sở để nhận diện, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi và xử lý. Hơn nữa như đã phân tích, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là bước tiếp theo của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống nên nếu mỗi cán bộ tự giác rèn luyện, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tức là sẽ ngăn chặn được “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Đồng thời, nếu không kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh với tất cả những biểu hiện, hành động trên thì nguy cơ dẫn đến vấn đề “diễn biến hoà bình” là rất lớn.

3.  Vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ dễ dấn đến vấn đề  “diễn biến hoà bình”.

Ở Việt Nam hiện nay,  sự chống phá của các thế lực thù địch với âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” đang ra sức thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nhằm chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm mất uy tín của cán bộ, đảng viên, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng với nhiều cách thức ngày càng tinh vi, khó nhận diện. Chẳng hạn, chúng lợi dụng những sự kiện lớn của đất nước và một số vụ việc (gần đây nhất là các sự kiện giàn khoan 981 hay giàn khoan Hải dương địa chất 8 của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam, sự kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, hay các vụ án liên quan đến tham nhũng, vấn đề nước sạch, môi trường… để nói xấu, bôi nhọ, đả kích nhằm kích động tinh thần, kích động biểu tình, tung tin thất thiệt, gây hoang mang dư luận. Điều đó đã làm cho một số cán bộ, đảng viên không đủ tỉnh táo, lập trường không vững vàng, không biết cách chọn lọc thông tin, nhận thức không đầy đủ, đúng đắn đã dễ dàng “bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có những tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”, có những bình luận, suy diễn, công khai cổ suý cho những nhận định sai trái, thiếu khách quan về một số sự kiện có liên quan đến lịch sử cách mạng, hoặc một số cá nhân lãnh đạo với dụng ý xấu và vô tình trở thành công cụ tiếp tay cho âm mưu của chúng. Trong số đó có cả cán bộ đã từng cống hiến lâu năm cho cách mạng, cán bộ có vị trí xã hội, cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, hoặc có những bất mãn cá nhân bị các thế lực xấu ở trong và ngoài nước tâng bốc, lôi kéo, nhồi nhét những tư tưởng xuyên tạc. Họ đã trở thành những người đi ngược lại với dân tộc, phản bội Tổ quốc, tiếp tay cho địch phát tán tài liệu, truyền bá những quan điểm sai trái với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Nhìn nhận thẳng thắn những vấn đề trên, ta thấy rằng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay có quan hệ chặt chẽ   với “diễn biến hòa bình”. “Diễn biến hòa bình” đang lợi dụng khoét sâu, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” lại thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất. Nếu nhìn tổng thể thì có thể thấy âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng chuyển hoá chế độ ta bằng “diễn biến hoà bình” là hết sức nguy hiểm, trong đó nguy hiểm nhất là khai thác những mầm mống và khả năng “tự diễn biến” để chuyển hoá ta cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống.

Trên co sở nhân thức rõ mối liên quan mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau giữa các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên;  biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; âm mưu “diễn biến hoà bình” của kẻ thù hiện với những bước đi nguy hiểm, khó lường, yêu cầu việc nhận diện, đấu tranh phòng chống các biểu hiện trên cần phải phối hợp và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó, đặc biệt chú trọng các giải pháp trong công tác cán bộ, bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ví tác hại của loại giặc “nội xâm” này chẳng khác nào như cỏ dại đối với lúa; muốn lúa tốt thì phải nhổ cỏ cho sạch, nếu không thì dù cày bừa có kỹ, bón phân nhiều thì lúa vẫn xấu vì bị cỏ át đi. Đúng như vậy, hiện nay chúng ta đang chứng kiến một cuộc chiến đấu chống giặc “nội xâm” được diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt nhưng lại rất sâu sắc, không ồn ào, thể hiện trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi đơn vị, mỗi địa phương, đến tất cả mọi lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội. Ngay từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và bốn hệ thống giải pháp; tập trung xây dựng và chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, đảng viên với tinh thần kiên quyết và triệt để, nhất là vấn đề giám sát, kiểm soát quyền lực.

Như vậy, vấn đề suy thoái và biểu hiện của suy thoái không ở đâu xa, nó đang nằm ngay trong các cơ quan, đơn vị, trong mỗi đảng viên, mỗi cán bộ chúng ta. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải xác định rõ lý tưởng cách mạng, kiên trì với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nước ta, luôn rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, đấu tranh với những cám dỗ, thói hư tật xấu, đấu tranh mạnh mẽ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm được điều đó, sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ đồng thời làm thất bại những mưu đồ lợi dụng vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để dẫn đến vấn đề “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng nước ta và sự phát triển của đất nước của các thế lực thù địch trong và ngoài nước hiện nay./.

Tài liệu tham khảo:

1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 1994, t.20, tr.253.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001, tr86.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa  XI, Nxb Chính trị quốc gia, H.2012, tr. 22, 23.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr.185.

“Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” - Cội nguồn sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam

 Nhận sứ mệnh lịch sử thiêng liêng ấy, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được sự giúp đỡ, đùm bọc của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chính thức làm lễ tuyên thệ khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vào ngày 22-12-1944. Mốc son đánh dấu sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”.

"Từ nhân dân mà ra"

Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là kết tinh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam; kế thừa kinh nghiệm và phát huy truyền thống đánh giặc, giữ nước của dân tộc. Ngay từ khi Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong khi xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam: Đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày, Đảng ta đã chỉ rõ con đường giải phóng duy nhất là con đường bạo lực cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra từng bước được hình thành và lớn mạnh không ngừng. Từ các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ trong phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh; các tổ chức vũ trang được thành lập trong những năm 1940 - 1945, như: Đội du kích Bắc Sơn, Lạng Sơn, đội du kích Pắc Bó, Cao Bằng, đội du kích Ba Tơ, Trung kỳ, du kích Nam kỳ, Cứu Quốc quân là sự phát triển vượt bậc của lực lượng vũ trang nhân dân. Trước đòi hỏi bức thiết của lịch sử phải có đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, Xích Thắng làm chính trị viên và đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách đã ra đời.

Đội quân được sinh ra từ nhân dân “Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận là con em công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Qua được giáo dục, rèn luyện trong quân đội, họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội”(1) luôn khắc cốt ghi tâm lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”(2). Người còn căn dặn, nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ: “Phải nhớ rằng dân là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết”(3). Chính vì vậy, trong 10 lời thề, lời thề thứ chín mà các chiến sĩ Ðội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đọc trong buổi ra mắt là: Khi tiếp xúc với dân làm đúng ba điều răn: không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân, và ba điều nên: kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân. Những lời thề, lời răn ấy luôn được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Quân đội nhân dân Việt Nam tuân thủ, không chỉ xem đây như kỷ luật sắt của một đội quân mà hơn thế, đó là “mệnh lệnh” từ khối óc và con tim của mỗi người. Chỉ có dựa vào dân, được nhân dân tin yêu như con em ruột thịt thì Quân đội mới giữ vững và phát huy được bản chất, truyền thống tốt đẹp của mình, nâng cao được sức mạnh chiến đấu tổng hợp của Quân đội và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Xa rời nhân dân, không gắn bó mật thiết với nhân dân, không liên hệ chặt chẽ với nhân dân, không dựa vào dân thì Quân đội không thể có sức mạnh chiến đấu cao, không thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Được sinh ra từ nhân dân, nên người lính “Bộ đội Cụ Hồ” luôn được nhân dân yêu quý, đùm bọc. Các bà mế, bà bủ vùng trung du, rừng núi phía bắc, hoặc những bà má phương Nam gọi họ là con, là “máu mủ, ruột già”, là tình thương yêu của mẹ dành cho thằng hai, thằng ba,... trên mỗi chặng đường hành quân ra trận. Thời kỳ Cách mạng Tháng Tám 1945 và những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân đã tự nguyện chắt chiu, xây dựng “hũ gạo kháng chiến” để có thêm lương thực nuôi quân hoặc quyên góp quần, áo, chăn, màn trong phong trào “mùa đông binh sĩ”... Thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, người hậu phương thi đua “mỗi người làm việc bằng hai”, “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, “xe chưa qua, nhà không tiếc”,... để chi viện kịp thời cho con em mình đang ngày đêm đánh giặc ngoài tiền tuyến. Ngày ấy, những người mẹ, người vợ, người chị “cắn răng”, “nuốt lệ” chịu đựng thiếu thốn, gian lao để thẳng những đường cày “ba đảm đang”, “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng” trên đồng ruộng, trong xưởng máy, để yên lòng người ra trận. Và, hình ảnh mẹ Suốt chèo đò dưới bom đạn địch đưa những đoàn quân vượt sông ra trận hay hình ảnh bà má đào hầm bí mật từ lúc tuổi còn xanh đến khi đầu bạc, thức thâu đêm canh chừng giấc ngủ cho những đứa con từ mọi miền đất nước ra chiến trường đánh giặc; những người mẹ, vợ nuốt lệ lần lượt tiễn chồng, con, cháu lên đường đánh giặc… là biểu tượng ngời sáng và bền vững của tình Mẹ, tình đất nước, tình nhân dân dành cho đứa “con đẻ” của mình - những người lính, anh  “Bộ đội Cụ Hồ”.

“Vì nhân dân mà chiến đấu”

Được sinh ra, nuôi dưỡng, đùm bọc và giúp đỡ của nhân dân, từ lực lượng nhỏ bé ban đầu, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chăm lo, giáo dục, rèn luyện của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã không ngừng phát triển. Đội quân từ nhân dân mà ra đã lĩnh hội sứ mệnh lịch sử dân tộc giao phó “vì nhân dân mà chiến đấu”. Thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao cả: Độc lập dân tộc và CNXH, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ ta hăng hái tham gia lao động sản xuất để vừa tự túc một phần vật chất, giảm bớt sự đóng góp của nhân dân, vừa tham gia xây dựng đất nước, phục vụ “quốc kế dân sinh”. “Vì nhân dân mà chiến đấu” được thể hiện sâu sắc trong những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là “cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”(4). Quân đội ta chiến đấu, hy sinh vì nhân dân được thể hiện ngay sau 3 ngày thành lập.

Từ những chiến công đầu tiên Phai Khắt, Nà Ngần đến Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, từ khí thế cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh của quân và dân Hà Nội mở đầu ngày toàn quốc kháng chiến, tháng 12-1946, đến trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ năm 1954, Quân đội nhân dân Việt Nam cùng các lực lượng vũ trang cách mạng trong cả nước đã trưởng thành vượt bậc, trở thành một quân đội cách mạng chính quy, lập nên kỳ tích Điện Biên Phủ, huyền thoại có thật ở thế kỷ XX “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Thắng lợi này không chỉ làm phá sản mưu đồ quay trở lại thống trị Việt Nam của chủ nghĩa thực dân mà còn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên, mở đầu cho sự sụp đổ hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới. Từ những chiến công mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần hai đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, một lần nữa Quân đội nhân dân Việt Nam lại lập nên những chiến công vang dội thế giới, giành độc lập tự do toàn vẹn, thu non sông liền một dải, mở ra thời kỳ mới, thời kỳ cả nước ta ra sức xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là những mốc son chói lọi được ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc, nó không chỉ thể hiện mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ “vì nhân dân mà chiến đấu” mà còn đánh dấu bước trưởng thành nhanh chóng và phát triển vượt bậc của Quân đội ta.

Đất nước thống nhất, cả nước bắt tay vào xây dựng CNXH, Quân đội ta vừa tham gia phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời vừa chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Những năm tháng hào hùng ấy, Quân đội ta đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, chịu nhiều hy sinh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế, giúp nước bạn Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng… Bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Quân đội ta tiếp tục thực hiện tốt vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Toàn quân luôn gương mẫu thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”. Công tác hậu phương quân đội được chú trọng thực hiện, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội và củng cố thế trận lòng dân, tạo cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phòng, chống, khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” giúp dân trong thiên tai, khó khăn, vừa làm bác sĩ, vừa làm thầy giáo nơi biên giới, vùng cao, hải đảo xa xôi… góp phần quan trọng củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.

Nhiệm vụ trong tình hình mới

Kế thừa và phát huy truyền thống, giữ vững bản chất “Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”, để tiếp tục xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nâng cao sức mạnh chiến đấu”, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Nhà nước và nhân dân, các cấp ủy trong Quân đội cần chú trọng làm tốt một số nhiệm vụ sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục bản chất, truyền thống, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho bộ đội.

Để làm được điều đó, công tác giáo dục chính trị phải luôn đổi mới, bám sát nội dung, chương trình, đối tượng và thực tiễn xây dựng Quân đội; gắn giáo dục những vấn đề cơ bản với giáo dục bản chất cách mạng, truyền thống của Đảng, dân tộc, Quân đội và đơn vị. Đồng thời, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào Thi đua Quyết thắng, xây dựng môi trường văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi để bộ đội phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành. Trên cơ sở nhận thức đúng, cán bộ, chiến sĩ xác định rõ trách nhiệm chính trị của mình, không ngừng trau dồi phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tích cực rèn luyện, phấn đấu, học tập, công tác, lao động, sản xuất, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Hai là, nêu cao tinh thần, ý chí, truyền thống quyết chiến quyết thắng

Quân đội ta cần không ngừng được rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, mưu trí và sáng tạo trong chiến đấu, tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện vũ khí trang bị hiện đại, tổ chức chiến trường và truyền thống đánh giặc của tổ tiên lên tầm cao mới; phải biết đánh giá đúng kẻ địch, tìm cách hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch để đánh địch, luôn nêu cao tinh thần mưu trí, dũng cảm và táo bạo, khiến địch bất ngờ, giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng, dẫn đến thất bại. Ý chí quyết chiến quyết thắng của Quân đội ta còn thể hiện rõ trong lao động sản xuất và công tác. Thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ cũng luôn dũng cảm, cần cù, tận tụy, thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” đem hết tinh thần, sức lực, trí tuệ, tài năng, kiên quyết hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ.

Ba là, tăng cường mối đoàn kết gắn bó máu thịt quân - dân, thực hiện “quân với dân một ý chí”

Nhận thức sâu sắc về sức mạnh đoàn kết quân - dân chính là cội nguồn sức mạnh của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong điều kiện thời bình, cán bộ, chiến sĩ quân đội càng phải thật sự đi sâu, đi sát, gần gũi nhân dân. “Phải làm thế nào để khi mình chưa đến, thì dân trông mong, khi mình đến thì dân giúp đỡ, khi mình đi nơi khác thì dân luyến tiếc”(5). Đi đôi với bồi dưỡng sức dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam còn phải biết tôn trọng sức dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Phải nhớ rằng, tất cả cái ăn, cái mặc, cái dùng của bộ đội đều do dân làm ra, do nhân dân dành dụm, tiết kiệm mà có và đều là mồ hôi, công sức của dân”. Đồng thời, chủ động phát hiện và kịp thời đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; xây dựng, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội, góp phần làm cho hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” thêm ngời sáng trong lòng nhân dân. Tiếp tục thực hiện sáng tạo, hiệu quả trong phong trào thi đua “Dân vận khéo” của Quân đội nhân dân Việt Nam, nhất là phong trào: “Chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc”, “Nâng bước em tới trường”, “Bò giống cho đồng bào biên giới”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới và giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới”, “Mái ấm cho đồng bào nơi biên giới”, “Tết quân dân”, “Kết hợp quân dân y”, “Thầy giáo quân hàm xanh”... góp phần quan trọng xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”, giữ vững ổn định chính trị, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Ðảng, Nhà nước và Quân đội.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc bản chất, truyền thống, “phi chính trị hóa” Quân đội và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là xuyên tạc bản chất cách mạng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, mối quan hệ đoàn kết quân dân; từ đó, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, cho rằng Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc chứ không có chức năng bảo vệ, trung thành với Đảng, Nhà nước và chế độ. Trước tình hình đó, cần tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh, có quan điểm, lập trường vững vàng, không bị tác động bởi những thủ đoạn chống phá, kích động. Tiếp tục đổi mới, sáng tạo, duy trì các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với đó, cần xây dựng nội bộ các cơ quan, đơn vị vững mạnh, nhất là về chính trị, tư tưởng, khắc phục biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không để các thế lực thù địch tạo cớ, lợi dụng chống phá. Chỉ khi xây dựng được một quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, có nguồn gốc vững chắc “từ nhân dân mà ra”, có lý tưởng cao đẹp “vì nhân dân mà chiến đấu”, cán bộ, chiến sĩ của quân đội mới giành chiến thắng trong cuộc chiến tâm lý về “vũ khí luận” của đối phương./.


Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

Giá trị bền vững của tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội

 Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội phản ánh sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại, đáp ứng thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực lý luận khoa học về quân đội và có giá trị trong thời đại ngày nay.

1. Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội

Kế thừa những hạt nhân hợp lý trong lịch sử tư tưởng về quân đội, bằng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp cận và xây dựng lý luận về quân đội rất khoa học, cách mạng, phản ánh thực tiễn của thời đại trên lập trường của giai cấp vô sản. Tư tưởng của các ông về quân đội thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Về nguồn gốc ra đời của quân đội. Trong tác phẩm Quân đội, Ph.Ăngghen viết: “Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”(1). Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, xuất phát từ nhận thức sâu sắc các quan hệ kinh tế - xã hội hiện thực, Ph.Ăngghen cho rằng, quân đội là một hiện tượng lịch sử, ra đời ở một giai đoạn nhất định của xã hội, gắn với sự ra đời của giai cấp, nhà nước, là tổ chức đặc biệt của nhà nước. Từ phân tích mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng và các nhà nước, Ph.Ăngghen chỉ rõ, chế độ tư hữu và đối kháng giai cấp trong xã hội là nguồn gốc khách quan làm xuất hiện và tồn tại nhà nước; để bảo vệ địa vị, lợi ích của mình và đàn áp quần chúng nhân dân lao động, giai cấp thống trị tổ chức ra quân đội. Theo đó, nguồn gốc sâu xa sự ra đời và tồn tại quân đội gắn với sự ra đời và tồn tại chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nguồn gốc trực tiếp xuất hiện và tồn tại quân đội là do xã hội có sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp.

Từ thực tiễn xã hội loài người, Ph.Ăngghen chứng minh, trong xã hội cộng sản nguyên thủy “không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, - thế mà mọi việc đều trôi chảy”(2). Đến thời kỳ cuối của công xã nguyên thủy, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã làm tăng năng suất lao động và xuất hiện của cải dư thừa trong xã hội. Những người có chức quyền trong thị tộc, bộ lạc như tù trưởng, tộc trưởng, lãnh tụ quân sự lợi dụng quyền lực để thâu tóm hầu hết tư liệu sản xuất và của cải dư tương đối do xã hội tạo ra. Từ đây xã hội có sự phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo, các giai cấp có địa vị kinh tế - xã hội đối lập nhau. Ph.Ăngghen khẳng định, chính sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã “chọc lỗ thủng” đầu tiên vào chế độ thị tộc nguyên thủy, làm cho công xã nguyên thủy tan rã và đưa tới sự ra đời chế độ chiếm hữu nô lệ. Quá trình tan rã chế độ công xã nguyên thủy, tổ chức quân sự cũng dần thay đổi và mang những hình thức mới. Sự xuất hiện giới quý tộc, các thủ lĩnh bộ lạc, tù trưởng thành một tầng lớp xã hội đặc biệt và sự hình thành giai cấp thống trị bóc lột đã làm xuất hiện mầm mống quân đội. Thời kỳ đầu, đây là tổ chức của những người có vũ trang, dưới hình thức các đội vũ trang thường trực, các đội dân binh phục vụ và bảo vệ tầng lớp quý tộc, thượng lưu. Cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản ngày càng trở nên sâu sắc, đội quân thường trực được tăng cường, cơ cấu tổ chức ngày càng chặt chẽ hơn. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ và nhà nước chủ nô xuất hiện, tổ chức quân đội chính thức ra đời trong lịch sử.

Về bản chất quân đội. Theo Ph.Ăngghen, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó và quân đội đã trở thành mục đích chủ yếu của nhà nước, trở thành một mục đích tự nó. Bản chất giai cấp của quân đội được thể hiện trong quá trình tổ chức, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ. Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, chế độ tư hữu và nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, để làm giàu, củng cố, mở rộng, bảo vệ quyền lực của mình, giai cấp thống trị đã tổ chức cơ cấu chỉ huy chặt chẽ, huấn luyện chu đáo và trang bị vũ khí chuyên dùng cho quân đội, hợp pháp hóa bạo lực vũ trang, biến nó thành một phương tiện hữu hiệu nhất để trấn áp các lực lượng, giai cấp đối lập với mình, thực hiện bằng được các mục tiêu chính trị.

Giai cấp thống trị và nhà nước quyết định bản chất quân đội thông qua việc truyền bá hệ tư tưởng bằng hệ thống giáo dục cho binh lính, xác lập cơ cấu tổ chức, phương hướng hoạt động phù hợp với lợi ích của giai cấp đó và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội. Bản chất giai cấp của quân đội còn biểu hiện trực tiếp ở chức năng và nhiệm vụ. Ph.Ăngghen cho rằng, bất cứ quân đội nào cũng là cơ sở bạo lực chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Trong lịch sử chưa có quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung của tất cả các giai cấp, vì nó là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Ph.Ăngghen khẳng định, quân đội là công cụ bạo lực để nhà nước thống trị, đàn áp nhân dân lao động, răn đe, buộc quần chúng nhân dân lao động phải phục tùng giai cấp thống trị và nhà nước của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong nước; tiến hành chiến tranh bảo vệ lãnh thổ của nhà nước khỏi sự xâm lược từ bên ngoài, hoặc tiến hành chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ, phục vụ lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị, áp đặt ách nô dịch đối với dân tộc khác. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, do mục đích chính trị, quan điểm và phương pháp sử dụng của các giai cấp và nhà nước khác nhau, nhiệm vụ của từng kiểu quân đội có sự biến đổi theo.

Về quy luật hình thành phát triển quân đội. Ph.Ăngghen đã luận giải và chỉ ra sự vận động, phát triển của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị, kinh tế, xã hội. Ph.Ăngghen phân tích, sự tan rã rộng khắp của chế độ phong kiến và sự phát triển của các thành thị đã thúc đẩy sự thay đổi thành phần của quân đội; khi quân đội phong kiến không còn tồn tại nữa, những quân đội mới được thành lập gồm đông đảo lính đánh thuê mà sự tan rã của chế độ phong kiến đem lại cho họ quyền tự do phục vụ kẻ nào trả tiền cho họ. Như thế làm nảy sinh ra một lực lượng giống quân đội thường trực; trong đó lính đánh thuê gồm những người thuộc đủ các dân tộc, khi duy trì kỷ luật trong họ và họ không được trả lương kịp thời dễ gây ra những vụ rối loạn rất lớn.

Về kiểu, loại quân đội. Trong tác phẩm “Quân đội”, Ph.Ăngghen cho rằng, cơ sở để phân biệt một kiểu quân đội là tính quy định lịch sử - cụ thể của xã hội, tính chất của các quan hệ giai cấp và điều kiện kinh tế - xã hội của sự phát triển quân đội đó. Kiểu quân đội được quy định bởi bản chất giai cấp của nó và biểu hiện ở nội dung duy trì đường lối chính trị của một giai cấp nhất định. Theo Ph.Ăngghen, việc phân loại quân đội căn cứ vào đặc trưng chính trị, xã hội chủ yếu của các quân đội để chỉ ra nội dung hoạt động cơ bản của quân đội gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ph.Ăngghen chỉ rõ, kiểu quân đội đầu tiên trong lịch sử là quân đội của nhà nước chiếm hữu nô lệ, tuy nhiên chúng có hình thức tổ chức và phương thức xây dựng không giống nhau. Ở Ai Cập cổ đại, Átxiri, Babilon đều có quân đội đẳng cấp mà hạt nhân của nó là giới quý tộc và những người thân cận của hoàng đế. Còn ở Hy Lạp cổ đại và La Mã, lúc đầu quân đội xây dựng theo chế độ cảnh sát, binh lính được tuyển mộ từ những người của các giai cấp hữu sản và cả các công dân tự do, về sau lực lượng này trở thành quân đội đánh thuê, thường trực. Dù kiểu quân đội trên có khác nhau, song đặc điểm chủ yếu của các kiểu quân đội ấy là đều phục vụ cho giai cấp chủ nô, là công cụ bạo lực vũ trang của giai cấp ấy, là phương tiện để bảo vệ và củng cố chế độ chiếm hữu nô lệ.

Chế độ phong kiến được ra đời làm xuất hiện quân đội phong kiến - là công cụ của quyền lực nhà nước phong kiến, chỗ dựa cho giai cấp địa chủ phong kiến. Sự thay đổi loại hình quan hệ xã hội quy định sự thay đổi nội dung hoạt động của quân đội. Nhiệm vụ chủ yếu của quân đội phong kiến là đàn áp nông nô, xâm lược các vùng đất mới, mở mang lãnh thổ và áp bức các dân tộc khác. Các nước khác nhau và trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội phong kiến, quân đội có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức, quân số, nguyên tắc tuyển mộ binh lính. Song bản chất của quân đội phong kiến vẫn là công cụ, phương tiện để nhà nước phong kiến áp bức, bóc lột trong xã hội. Khi chủ nghĩa tư bản ra đời, làm xuất hiện quân đội tư sản, là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước tư sản để duy trì các quan hệ bóc lột và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp tư sản. Quân đội tư sản đàn áp các phong trào cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động, xâm chiếm lãnh thổ ngoài biên giới, củng cố chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Quân đội tư sản còn là công cụ chủ yếu để thực hiện chính sách của chủ nghĩa đế quốc.

Về sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ph.Ăngghen đã đề cập đến những yếu tố cơ bản trong sức mạnh chiến đấu của quân đội. Ông đã luận giải yếu tố quân số, cơ cấu tổ chức, biên chế của quân đội khi chỉ rõ: “Tất cả những người được gọi nhập ngũ biên chế thành bộ binh trang bị nặng (quân hô-plít) để tạo thành đội chấp kích, hoặc đội hình hàng ngang có chiều sâu... bộ binh ấy ban đầu tạo thành toàn bộ lực lượng vũ trang,...”(3). Ph.Ăngghen luận giải, cơ cấu tổ chức của quân đội gồm nhiều cơ quan và được thực hiện theo những cách khác nhau ở mỗi nước. Ph.Ăngghen lấy ví dụ: “tổ chức của bộ chiến tranh Pháp. Nó gồm có 7 cơ quan quản lý hoặc cục: (1) cục nhân sự, (2) cục pháo binh, (3) cục xây dựng công trình - cứ điểm, (4) cục quân nhu, (5) cục phụ trách các vấn đề Angiêri, (6) quân vụ (phòng chiến sự, phòng đồ bản quân sự, v.v. và các phòng ban của bộ tham mưu), (7) cục tài chính quân sự”(4).

Về sự vận động, phát triển sức mạnh chiến đấu của quân đội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận giải sự cần thiết của việc lấy vũ trang nhân dân thay thế quân đội thường trực. Từ thực tiễn Công xã Pari, các ông nhận thấy bài học có giá trị cần tiếp tục nghiên cứu và phát huy là giai cấp công nhân cần đập tan quân đội thường trực của giai cấp tư sản và thay thế bằng hình thức tổ chức quân sự mới của giai cấp vô sản. Trong các tác phẩm Nội chiến ở Pháp, Lời kêu gọi của Tổng hội đồng hội liên hiệp công nhân quốc tế năm 1871, và Gửi tất cả các hội viên của hội ở châu Âu và ở nước Mỹ, C.Mác đã khẳng định: “Pa-ri sở dĩ chống lại được chỉ là vì do bị vây hãm, nó đã loại bỏ được quân đội và thay thế bằng một đội vệ binh quốc gia gồm chủ yếu là công nhân. Hiện nay cần phải biến thực trạng đó thành một chế độ hẳn hoi. Cho nên sắc lệnh đầu tiên của công xã là bỏ quân đội thường trực và thay thế bằng nhân dân vũ trang”(5).

Theo Ph.Ăngghen, sức mạnh chiến đấu của quân đội phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của nhà nước sinh ra nó và được coi là điều kiện tiên quyết. Ph.Ăngghen luận giải: “...toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội, và do đó thắng lợi hay thất bại rõ ràng là phụ thuộc vào các điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế”(6). Vũ trang, biên chế, tổ chức, chiến thuật, chiến lược phụ thuộc trước hết vào trình độ sản xuất đạt được trong một thời điểm nhất định. Sức mạnh chiến đấu của quân đội còn phụ thuộc vào chất lượng nhân lực và vũ khí, kỹ thuật, các đội bộ binh vũ trang khác nhau. Ph.Ăngghen đã luận giải rất biện chứng về sự chuyển hóa lượng - chất trong sức mạnh chiến đấu của quân đội gắn với sự hoàn thiện trình độ tổ chức quân sự trong mối tương quan với các tiền đề kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội.

Về sức mạnh chiến đấu của quân đội nhà nước vô sản, Ph.Ăngghen cho rằng, kinh tế trực tiếp cung cấp trang bị, phương tiện kỹ thuật, cơ sở vật chất cho quân đội và tác động tích cực đến xây dựng, phát triển các yếu tố khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân đội nhà nước vô sản. Ph.Ăngghen chỉ ra vai trò và những vấn đề cơ bản về kỹ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến của quân đội trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của nhà nước vô sản. Về mối quan hệ giữa con người và vũ khí, Ph.Ăngghen chỉ rõ, con người giữ vai trò quyết định, vũ khí, trang bị dù hiện đại, tối tân đến đâu cũng chỉ giữ vai trò quan trọng. Ông đánh giá cao vai trò của đội ngũ tướng lĩnh, sĩ quan trong xây dựng quân đội và tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội nhà nước vô sản. Ph.Ăngghen chỉ ra sự cần thiết phải đẩy mạnh trí tuệ hóa lực lượng vũ trang cách mạng để hiện đại hóa quân đội; chú trọng sử dụng những kỹ sư dân sự, nhằm tăng tính năng động, hiệu quả hoạt động của đội ngũ sĩ quan.

2. Giá trị lịch sử và hiện thực của tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội

Thứ nhất, về lý luận, với phương pháp tiếp cận và luận giải hết sức khoa học, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội là một cống hiến vĩ đại, thể hiện sâu sắc tinh thần biện chứng duy vật, tạo ra bước ngoặt cách mạng hoàn toàn mới về chất trong lịch sử tư tưởng nhân loại về quân đội. Tư tưởng của các ông về quân đội đã chính thức đặt nền móng và xác lập sự ra đời của học thuyết Mác về quân đội. Đây là cơ sở khoa học “giáng đòn chí mạng” vào lý luận quân sự của giai cấp tư sản và quan điểm phản khoa học, phản động, duy tâm, siêu hình về quân đội; bác bỏ quan điểm cố tình lẩn tránh nguồn gốc kinh tế, nguồn gốc giai cấp của quân đội, phủ nhận tính lịch sử, cố chứng minh cho sự tồn tại vĩnh viễn của quân đội, coi sự ra đời của quân đội là một sản phẩm tất yếu, tự nhiên thuần túy trong lịch sử loài người để bảo đảm các hoạt động “bình thường” của xã hội.

Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội là cơ sở khoa học để V.I.Lênin bảo vệ và phát triển lý luận về quân đội trong thời đại đế quốc chủ nghĩa. V.I.Lênin đã bổ sung, phát triển, làm sâu sắc thêm lý luận về quân đội, về nguồn gốc, bản chất, chức năng, sức mạnh chiến đấu của quân đội,.. đáp ứng kịp thời đòi hỏi phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lúc bấy giờ, làm cho học thuyết Mác - Lênin về quân đội trở nên hoàn bị hơn.

Tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học soi đường cho giai cấp công nhân và chính đảng cách mạng nhận thức đúng đắn nguồn gốc, bản chất của các kiểu quân đội và xác lập lý luận khoa học xây dựng quân đội của giai cấp vô sản. Theo đó, nhà nước vô sản xây dựng chính sách tổ chức, giáo dục, rèn luyện, sử dụng quân đội đúng chức năng, nhiệm vụ, thực sự là công cụ bạo lực để đấu tranh chống lại sự thống trị, xâm lược, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản phản động, bảo vệ địa vị, lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và nhà nước vô sản. Những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội là cơ sở khoa học để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp thu, bổ sung, phát triển đường lối, quan điểm về xây dựng quân đội, củng cố nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, về thực tiễn, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội đã đáp ứng đòi hỏi thực tiễn đấu tranh cách mạng, giúp các đảng cộng sản hoạch định chiến lược, sách lược lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong tổ chức, xây dựng quân đội vững mạnh, đủ sức đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Đó còn là cơ sở khoa học để các đảng cộng sản và giai cấp vô sản nhận diện kịp thời và đấu tranh kiên quyết chống lại những tư tưởng, quan điểm sai trái về vấn đề quân đội, nhất là trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng có hiệu quả vào tổ chức, giáo dục, rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngay trong Chánh cương vắn tắt của Đảng đã xác định, cần tổ chức ra quân đội công nông và khẳng định Quân đội ta là quân đội kiểu mới, mang bản chất của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh khẳng định, Quân đội ta là quân đội công nông, là quân đội kiểu mới của dân, do dân, vì nhân dân mà chiến đấu, có sự khác biệt về bản chất so với quân đội của thực dân, đế quốc, bởi quân đội của thực dân, đế quốc là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị bóc lột, đàn áp nhân dân, xâm lược và thống trị các dân tộc khác. Từ đó, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất phản động của quân đội đế quốc xâm lược là: “Nó dùng những người vô sản da trắng để chinh phục những người vô sản các thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở một thuộc địa khác”(7).

Trên cơ sở tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, bản chất giai cấp của Quân đội ta được biểu hiện ở lý tưởng và mục tiêu chiến đấu cao cả là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(8). Đồng thời, Hồ Chí Minh yêu cầu Quân đội ta “vừa phải đánh giặc giỏi, vừa phải ra sức giúp đỡ nhân dân và tuyên truyền vận động nhân dân. Khi cần thiết phải tích cực tham ra xây dựng kinh tế và giúp dân sản xuất”(9). Tiếp đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra sức chăm lo xây dựng đảng trong Quân đội, thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp đối với Quân đội, xây dựng tổ chức đảng, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và chỉ đạo tăng cường công tác chính trị trong Quân đội theo quan điểm chính trị trọng hơn quân sự.

Trong quá trình tổ chức xây dựng và lãnh đạo Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm nâng cao chất lượng toàn diện và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “chúng ta phải xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu để giữ gìn hòa bình, bảo vệ đất nước, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ đó bao gồm việc xây dựng quân đội thường trực và xây dựng lực lượng hậu bị”(10). Theo Người, yếu tố chính trị tinh thần trong quân đội rất quan trọng và được biểu hiện ra trong lúc đánh giặc, bởi vậy bộ đội phải tinh, sức chiến đấu phải mạnh; toàn quân phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hóa, cán bộ quân đội phải học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu. Người yêu cầu, phải xây dựng tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ luật cho bộ đội, bởi vì: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm”(11); đồng thời, quân đội nhất định phải tiến từng bước lên chính quy và hiện đại. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm chăm lo, bồi dưỡng nhân tố con người trong quân đội có phẩm chất, năng lực toàn diện, có đạo đức cách mạng, tri thức quân sự, sức khỏe và trình độ văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ. Người quan niệm: “Tướng là kẻ giúp nước. Tướng giỏi (đủ cả: trí, tín, nhân, dũng, nghiêm) thì nước mạnh. Tướng xoàng thì nước hèn”(12). Vì thế, từ những ngày đầu của sự nghiệp cách mạng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử cán bộ đi học tập để chuẩn bị cho xây dựng quân đội.

Hiện nay, trước những tác động tổng hợp của các nhân tố khách quan và chủ quan, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là vùng Biển Đông, yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của quân đội đặt ra ngày càng cao. Do đó, việc vận dụng sáng tạo, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về quân đội vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh càng đặt ra cấp thiết. Theo đó, cần xác định đúng, trúng nội dung, phương thức củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân đội Việt Nam; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, đủ làm “nản lòng” các lực lượng thù địch đối với sự nghiệp các mạng của nước ta; xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại đáp ứng với chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Vạch mặt những kẻ đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang

 Phi chính trị hóa” quân đội, cảnh sát là luận điểm đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở các nước tư bản phương Tây. Với chế độ đa đảng chính trị, để hạn chế sự can dự của quân đội, cảnh sát vào các cuộc tranh giành quyền lực chính trị, nhà cầm quyền các nước này đề ra luận điểm “phi chính trị hóa quân đội, cảnh sát”.

ính giả tạo của luận điểm này đã được V.I.Lênin chỉ rõ trong bài báo “Quân đội và cách mạng” đăng trên báo “Đời sống mới” của nước Nga, ngày 16/11/1905: “...những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị... là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”(1).

“Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an” là một luận điệu mà các thế lực phản động, thù địch với Việt Nam vẫn rả rích tuyên truyền, với nhiều biến thể khác nhau, được phân chia thành nhiều nội dung cụ thể. Vấn đề đặt ra hiện nay là nhận diện thật rõ: Ai đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an? Họ là người như thế nào? Chúng ta phải đấu tranh chống các luận điệu sai trái đó như thế nào?

Thực tiễn đấu tranh tư tưởng ở Việt Nam đã lộ diện một số “gương mặt” đòi Việt Nam phải “phi chính trị hóa” quân đội, công an như sau:

Một là, một số “lý luận gia” tư sản, chính trị gia ở các nước phát triển phương Tây vốn thâm thù ý thức hệ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những người này chống cộng điên cuồng, chống Đảng Cộng sản Việt Nam bằng mọi giá. Từ thực tế ở Liên Xô, Đông Âu, họ rút ra kinh nghiệm muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) trước hết phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản đối với quân đội, công an. Những “lý luận gia” này đang làm việc trong bộ máy chính quyền nhà nước hoặc làm việc trong quân đội nên họ có điều kiện tác động vào chính sách đối ngoại của đất nước họ, đồng thời quyên góp, ủng hộ vật chất để đầu tư cho các chương trình tuyên truyền, xuyên tạc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân, Công an nhân dân Việt Nam.

Hai là, một số nhóm tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa ở nước ngoài. Thành viên các nhóm này bỏ chạy khỏi đất nước năm 1975, vốn là những người phản bội Tổ quốc, có nợ máu với nhân dân. Những hội, nhóm này tự xưng đảng phái, ủy ban, hội nọ, hội kia để lôi kéo những người Việt trẻ ở nước ngoài và các thành phần tàn dư của ngụy quân, ngụy quyền ở trong nước.

Ba là, một số trí thức, văn nghệ sĩ suy thoái, biến chất, bất mãn chế độ trong nước. Đáng tiếc nhất, trong số này có cả một vài cán bộ cấp cao trong hệ thống chính trị, sau khi nghỉ hưu hoặc bị kỷ luật đã sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã thành lập những câu lạc bộ, hội, nhóm để chống phá đất nước, chĩa mũi dùi tấn công nền tảng tư tưởng bằng cách xuyên tạc bản chất chính trị của quân đội, công an.

Bốn là, một bộ phận nhỏ người dân có nhận thức non kém về chính trị. Họ là trí thức trẻ, sinh viên, thanh niên, nông dân, công nhân... vì những lý do khác nhau, bị đầu độc bởi môi trường thông tin xấu độc, tham gia đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an.

“Phi chính trị hóa” quân đội, công an được xác định là nhiệm vụ trọng yếu của chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam; các thế lực thù địch cho rằng, “phi chính trị hóa” quân đội, công an chính là con đường cơ bản để “vô hiệu hóa” vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ có như vậy thì chúng mới có cơ hội làm “cách mạng sắc màu”, “cách mạng đường phố” ở Việt Nam.

Nếu như trước đây, các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an thông qua đòi hỏi trực diện là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, công an, thì gần đây có những biến thể mới về nội dung. Cụ thể như:

Dựa vào chính các nội dung lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, công an để xuyên tạc, bịa đặt. Chẳng hạn, mục tiêu xây dựng quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, trong đó một số lực lượng, quân chủng, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại thì chúng “bẻ lái” sang xây dựng “quân đội hiện đại, quân đội nhà nghề”. Từ đó cho rằng “không có quân đội nhà nghề nào lại do một đảng chính trị lãnh đạo”.

Dựa vào chính sách tuyển quân, tuyển công an của Đảng, Nhà nước ta để tung ra luận điệu cho rằng “quân đội, công an là của nhân dân, của mọi người dân yêu nước” để phá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, công an; phá hoại bản chất giai cấp của quân đội, công an.

Tuyên truyền, kích động, gây mất đoàn kết giữa quân đội với công an, gây mất đoàn kết trong nội bộ hai lực lượng này. Đặc biệt, chúng phao tin, đồn nhảm về các tướng lĩnh, cán bộ cấp cao trong lực lượng vũ trang (LLVT); cho rằng “có tham nhũng ghê gớm” trong quân đội, công an; từ đó gây tâm lý hoang mang, dao động trong cán bộ, chiến sĩ hòng làm suy giảm sức mạnh, sức chiến đấu của quân đội, công an. Những vụ việc tiêu cực trong quân đội, công an được xử lý, thể hiện rõ tính nghiêm minh của pháp luật thì chúng cho rằng, đó chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”.

Xuyên tạc về hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang. Cho rằng, đây là những hoạt động tốn kém, không thiết thực đối với xây dựng sức mạnh của lực lượng vũ trang; chia rẽ, gây sự phân biệt giữa các cán bộ chính trị với đội ngũ cán bộ trong lực lượng vũ trang.

Bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và hình ảnh người chiến sĩ công an; truyền bá lối sống thực dụng, chạy theo vật chất trong bộ đội, công an; kích động, lôi kéo một số cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ sa vào lối sống sa đọa, hưởng thụ, không còn lý tưởng vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Các thế lực thù địch đã sử dụng kết hợp nhiều phương tiện truyền thông (sách, băng đĩa, truyền hình, phát thanh, báo in, báo điện tử) cùng với mạng xã hội để phát tán thông tin. Một số cơ quan báo chí của nước ngoài như RFA, RFI, BBC, VOA... thường xuyên đăng, phát các dạng bài tuyên truyền đầu độc nêu trên và đăng kèm phụ đề “bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả”. Hằng năm, vào dịp các ngày lễ lớn của đất nước hoặc các sự kiện chính trị quan trọng (như Đại hội Đảng bộ Quân đội, Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương hướng tới Đại hội lần thứ XIII của Đảng) thì các hoạt động tuyên truyền, vận động đòi “phi chính trị hóa” quân đội, công an lại được tổ chức rầm rộ như một chiến dịch truyền thông.

Thực tiễn “phi chính trị hóa” quân đội diễn ra ở Liên Xô cho thấy, nếu xa rời những vấn đề nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội cách mạng thì sự rệu rã của quân đội, dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN sẽ hết sức nhanh chóng. Liên Xô bắt đầu “phi chính trị hóa” quân đội từ năm 1987, và chỉ 4 năm sau thì Liên Xô tan rã. Đầu tiên là việc Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội. Chỉ trong khoảng 2 năm (1987-1989), gần 50% cán bộ chiến lược của quân đội, 30% tướng lĩnh bị “về vườn”. Hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến dịch - chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ”. Năm 1990, Đại hội bất thường của Đảng Cộng sản Liên Xô tiếp tục xiết thêm sợi dây thòng lọng vào cổ mình với việc từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng. Chỉ đợi có thế, tháng 7/1991, Tổng thống Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động trong các cơ quan nhà nước. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng... Bi kịch “phi chính trị hóa” xảy ra đã khiến Quân đội Xô Viết, một quân đội hùng mạnh từng đánh bại chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu, không biết phải bảo vệ mục tiêu nào trong “thảm họa chính trị” tháng 8/1991 dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô.

Bài học rút ra từ quá trình “phi chính trị hóa” Quân đội Xô Viết càng giúp chúng ta hiểu hơn lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội không thể và không nên trung lập”(2).

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt. Trong đó, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Trước hết, tuyệt đối trung thành, kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVT tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuân thủ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT cách mạng; tích cực đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị trong LLVT nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong bộ đội, công an; tăng “sức đề kháng” của bộ đội, công an trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trên mặt trận chính trị tư tưởng.

Thứ hai, không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo LLVT cho phù hợp với tình hình mới, kiện toàn hệ thống và nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong quân đội, công an; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam, phản bác sự phi lý của luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội, công an bằng các luận cứ, luận chứng, luận điểm khoa học và thuyết phục. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu độc tiếp cận công dân Việt Nam.

Thứ tư, lực lượng chức năng của quân đội, công an chủ động đấu tranh với các đối tượng tàn dư của chế độ cũ, những đối tượng suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước; ngăn chặn, bóc gỡ các đường dây liên kết của các đối tượng phản động trong nước với thế lực thù địch bên ngoài.

Thứ năm, cần có chính sách nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm thu nhập xứng đáng với loại hình lao động đặc biệt để bộ đội, công an  yên tâm công tác và chiến đấu./.