Thứ Ba, 25 tháng 7, 2023

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

 

Ngày 09/11/2022, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Đây là nội dung quan trọng hàm chứa các quan điểm, mục tiêu cùng các nhiệm vụ và giải pháp nhằm xây dựng Nhà nước ta trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu cách mạng trong giai đoạn mới, nên cần được quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trong thực tiễn.

Quan điểmmục tiêu nhất quán trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Chính quyền, nhà nước là một trong những vấn đề cơ bản của các cuộc cách mạng xã hội. Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào cũng đều là trung tâm quyền lực của xã hội. Một chính đảng cầm quyền khi và chỉ khi chính đảng đó nắm được chính quyền, lãnh đạo nhà nước, nhất là nắm cả cơ quan lập pháp và hành pháp. Hội nghị Trung ương 6 (khóa XIII) của Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá: công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu rất quan trọng; tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, bất cập, có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quản lý và bảo vệ đất nước trong tình hình mới. Từ đó, đề ra mục tiêu tổng quát: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có “hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045”1.

Để đạt mục tiêu đó, Trung ương Đảng nêu quan điểm chỉ đạo toàn bộ hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giai đoạn hiện nay là tiếp tục xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới toàn bộ hệ thống chính trị. Trong đó, yêu cầu phải thấu suốt quan điểm kiên định về vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoạch định và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn giữa Đảng lãnh đạo với Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Thực hiện nhất quán nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quán triệt quan điểm đó là quán triệt tinh thần thượng tôn pháp luật, mọi tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tôn trọng, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Bản lĩnh vững vàng, quyết tâm chính trị cao trong thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp

Hội nghị Trung ương 6 (khóa XIII) nêu lên 10 nhiệm vụ và các giải pháp toàn diện nhằm tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Ở đây, xin được đề cập một cách tổng quát với những vấn đề: nhận thức, hành động và tổ chức thực hiện.

Về nhận thứccần tiếp tục  đẩy mạnh quán triệt, tuyên truyền để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức thông suốt, đúng đắn về nhiệm vụ xây dựng Nhà nước. Trong đó, cần thống nhất nhận thức rằng: xây dựng Nhà nước phải được tiến hành đồng bộ với thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo trong điều kiện mới. Tính chất pháp quyền của Nhà nước ta khác hẳn về bản chất so với pháp quyền của nhà nước tư sản, khẳng định dứt khoát không theo “tam quyền phân lập” mà các quyền đó là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả để bảo đảm mọi quyền lực tối cao đều thuộc về nhân dân. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đảng chính trị cầm quyền duy nhất trong xã hội. Một số người quan niệm rằng, xã hội nước ta là hiện tồn hoạt động của “bộ ba”, gồm: nhà nước pháp quyền (không có cụm từ “xã hội chủ nghĩa”); cơ chế thị trường (không có cụm từ “xã hội chủ nghĩa”) và xã hội dân chủ. Quan niệm đó không rõ về bản chất và mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của nước ta, nếu không nói đó là nhận thức sai lầm, phi thực tế. Đây không đơn thuần ở cách diễn đạt chữ nghĩa mà trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cần khẳng định một cách đúng đắn rằng: Nhà nước đó phải là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; cơ chế đó phải là cơ chế thị trường vận hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xã hội đó phải là xã hội bảo đảm và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đi liền với kỷ cương, phép nước. Do đó, để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn quán triệt quan điểm của Đảng, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Nhận thức khi đã sai, dù chỉ một li, nhưng sẽ “đi một dặm”, cho nên hệ thống chính trị các cấp phải nhận thức đúng đắn nhiệm vụ xây dựng Nhà nước trong điều kiện hiện nay.

Trong hành độngvấn đề có tính nguyên tắc, chỉ đạo mọi hành động xây dựng Nhà nước đó là: phải thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Bỡi lẽ, Hiến pháp và pháp luật của nước ta là ý chí của giai cấp công nhân, đồng thời là ý chí của toàn dân tộc Việt Nam yêu nước. Hiện nay, trong xây dựng Nhà nước ta, cần chú ý hơn cả ba nội dung: đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội; đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Để thực hiện điều đó, bài học kinh nghiệm quý báu được rút ra trong thời gian qua là phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; hành động một cách quyết liệt với quyết tâm chính trị cao trong tất cả các tổ chức, các cấp của hệ thống chính trị, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên làm việc trong bộ máy của Nhà nước. Phải khắc phục cho bằng được các “căn bệnh”: nói nhiều làm ít; nói hay làm dở; nói mà không làm; nói một đằng làm một nẻo để các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị,... của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống kịp thời, hiệu quả.

Trong tổ chức thực hiện, Đại hội XIII của Đảng đánh giá: việc triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng vẫn bộc lộ một số hạn chế trong toàn bộ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ đảng. Để khắc phục hạn chế đó, một nguyên tắc được đặt ra trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước đó là: phải luôn bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng, không dựa dẫm, sao chép chương trình của cấp trên. Điều đó đòi hỏi hệ thống chính trị phải thật sự trong sạch, vững mạnh; phát huy sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của tất cả đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân sự trong bộ máy của hệ thống chính trị. Trong thời gian vừa qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta đã đạt những thành tựu quan trọng; một bộ phận cán bộ suy thoái, mắc vào tệ tham nhũng, tiêu cực đã được xử lý; trong đó, có nhiều trường hợp là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương quản lý; trách nhiệm của người đứng đầu được đề cao, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Trong thời gian tới, toàn bộ hệ thống chính trị phải quyết tâm “vào cuộc” với tinh thần cách mạng tiến công vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước trên con đường thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; khắc phục tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, không dám hành động, làm việc cầm chừng.

Theo tinh thần đó, từ Bộ Chính trị đến các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII). Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo rà soát sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở pháp lý thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và giám sát việc thực hiện Nghị quyết. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội, đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và giám sát việc thực hiện Nghị quyết. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, chỉ đạo các cơ quan báo chí tăng cường tuyên truyền về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quá trình thực hiện Nghị quyết. Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Cùng với đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, tiếp tục cụ thể hóa, thể chế hóa, hoàn thiện, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội khác thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Năm 2023 là năm bản lề trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, việc xây dựng hệ thống chính trị, trong đó có xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo càng cần được đẩy mạnh. Đảng chỉ trong sạch, vững mạnh, làm tốt vai trò hạt nhân, lãnh đạo, cầm quyền, nâng cao sức chiến đấu, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân khi Nhà nước trong sạch, vững mạnh, và ngược lại. Sự thắng lợi trong thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoàn toàn phụ thuộc vào quyết tâm chính trị và hành động quyết liệt của mỗi cán bộ, đảng viên, của mỗi người dân Việt Nam yêu nước.

Lực lượng vũ trang tỉnh Vĩnh Phúc chú trọng xây dựng tiềm lực khu vực phòng thủ


Xây dựng tiềm lực quốc phòng nói chung, tiềm lực khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) nói riêng là nội dung quan trọng, xuyên suốt sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đối với tỉnh Vĩnh Phúc - địa bàn cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội thì xây dựng tiềm lực này càng có ý nghĩa quan trọng. Điều đó đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân trong Tỉnh cần tiếp tục tập trung mọi nguồn lực xây dựng các tiềm lực khu vực phòng thủ vững chắc, làm tiền đề đưa “Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh giàu có, phồn thịnh nhất ở miền Bắc nước ta” như lời Bác Hồ căn dặn.

Vĩnh Phúc là tỉnh trung du cận kề với Thủ đô Hà Nội, lại dung chứa nhiều tuyến giao thông thủy, bộ huyết mạch của quốc gia, với nhiều khu công nghiệp trọng điểm,... nên có vị trí quan trọng cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh đối với Quân khu 2 và cả nước. Đây là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa và là địa phương trải qua nhiều lần chia tách, sáp nhập địa giới hành chính, nhưng cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Vĩnh Phúc luôn phát huy truyền thống cách mạng, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là nguồn lực nội sinh để xây dựng quê hương giàu mạnh. Trong nhiều năm qua, cùng với tập trung phát triển kinh tế - xã hội, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh luôn ưu tiên dành nguồn ngân sách phù hợp đầu tư cho quốc phòng, an ninh; trong đó, tập trung xây dựng các tiềm lực trong khu vực phòng thủ được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên và đạt kết quả quan trọng trên nhiều mặt.

Với chủ trương đúng, tư duy, cách làm sáng tạo, cùng sự nỗ lực của các cấp, các ngành và toàn dân, năm 2022, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9,54%, thu ngân sách toàn Tỉnh đạt trên 40.000 tỉ đồng (cao nhất từ trước tới nay), vượt chỉ tiêu mà Đại hội Đảng bộ Tỉnh nhiệm kỳ (2020 - 2025) đề ra, thu nhập bình quân đạt gần 130 triệu đồng/người/năm, đứng trong nhóm 10 địa phương có GRDP bình quân đầu người cao nhất cả nước. Đây chính là điều kiện quan trọng hiện thực hóa chủ trương phát triển kinh tế - xã hội để tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh. Theo đó, những năm gần đây, Tỉnh đã dành hàng trăm tỉ đồng đầu tư xây dựng hệ thống công trình trong khu vực phòng thủ và mua sắm trang thiết bị cho lực lượng vũ trang Tỉnh, như: căn cứ chiến đấu, hệ thống trận địa phòng không, đường hầm, đường cơ động, thao trường huấn luyện, diễn tập, trang thiết bị cho lực lượng thường trực và dân quân tự vệ, v.v. Vì vậy, tiềm lực mọi mặt của khu vực phòng thủ được tăng cường; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân” từng bước được củng cố; chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương được nâng lên.

Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức và sự quan tâm của một số cấp ủy, chính quyền cơ sở đối với nhiệm vụ này còn hạn chế; việc xây dựng cũng như khả năng vận dụng kiến thức quân sự, quốc phòng của lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, v.v.

Để tiếp tục xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả, Bộ Chỉ huy Quân sự chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Tỉnh tập trung xây dựng các tiềm lực khu vực phòng thủ; trước hết tập trung xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi ngày càng cao, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về xây dựng khu vực phòng thủ; trọng tâm là Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”. Trên cơ sở đó, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động, bảo đảm sát tình hình địa bàn, kịp thời xử lý hiệu quả các vụ việc không để phát sinh thành điểm nóng hay khiếu kiện vượt cấp. Thực tế vụ việc vừa xảy ra ở địa bàn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk cho thấy, không chỉ đối với các địa phương có biên giới, mà ngay cả với những tỉnh nội địa cũng phải hết sức chú trọng làm tốt công tác nắm, dự báo, đánh giá chính xác tình hình, xử lý dứt điểm những vấn đề nổi cộm ngay từ cơ sở, không để các phần tử khủng bố có cơ hội nhen nhóm hoạt động. Vì vậy, thời gian tới, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành, chức sắc, chức việc các tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng dân cư, học sinh, sinh viên và phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân, Vĩnh Phúc tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo đội ngũ cán bộ các cấp phải thực sự gần dân, hiểu dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và giải quyết tốt nguyện vọng của nhân dân; xây dựng bộ máy trong sạch, vững mạnh, tạo niềm tin vững chắc của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở. Qua đó, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, địa phương và toàn dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Cùng với đó, Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức các hoạt động công tác dân vận; tham gia cùng với các địa phương thực hiện tốt phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” và Đề án “Làng văn hóa kiểu mẫu”, giúp dân xây dựng hệ thống đường giao thông nông thôn, trường học, nhà văn hóa, sửa chữa nâng cấp các trạm y tế, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, “đền ơn, đáp nghĩa”,… góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong khu vực phòng thủ.

Cùng với xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần, Tỉnh chú trọng tăng cường tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ, tạo nguồn lực vật chất cho khu vực phòng thủ. Trên cơ sở phát huy những kết quả ấn tượng vừa qua, Tỉnh xác định tiếp tục thực hiện các giải pháp đồng bộ để giữ vững mức tăng trưởng cao đối với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế - xã hội theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và của Tỉnh; xử lý các vướng mắc, tháo gỡ các điểm nghẽn trong tất cả các ngành, lĩnh vực. Đồng thời, chuẩn bị sẵn sàng mọi điều kiện thuận lợi nhất để thu hút các nhà đầu tư chiến lược, công nghệ cao, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho sản xuất kinh doanh. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; chú trọng triển khai các dự án có tính lưỡng dụng cao, vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, vừa bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khi cần thiết; khuyến khích đầu tư chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ngay từ cơ sở.

Để tạo nền tảng cho các nguồn tiềm lực của khu vực phòng thủ, Tỉnh tăng cường đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phát triển đô thị xanh ở thành phố Vĩnh Yên và các huyện: Lập Thạch, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư phát triển hệ thống đường giao thông, thông tin, viễn thông, thủy lợi,… bảo đảm phục vụ hoạt động dân sinh trong thời bình và sẵn sàng động viên khi có tình huống quốc phòng. Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt của Bộ Chỉ huy Quân sự Tỉnh trong phối hợp, thẩm định, giám sát chặt chẽ các quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, nhất là ở những khu vực trọng điểm. Tham mưu đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào sản xuất, quản trị doanh nghiệp; đẩy nhanh tiến độ triển khai Đề án xây dựng đô thị thông minh gắn với chính quyền điện tử,… tạo cú hích để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực vật chất, khoa học, công nghệ trong khu vực phòng thủ.

Với nhận thức xây dựng tiềm lực, thế trận quân sự là nội dung cốt lõi của khu vực phòng thủ, Tỉnh chú trọng tăng cường xây dựng tiềm lực quân sự, trọng tâm là xây dựng thế trận quân sự và lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh. Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, tập trung đầu tư xây dựng các hạng mục công trình quốc phòng, quân sự, như: hệ thống sở chỉ huy các cấp, căn cứ chiến đấu, khu vực phòng thủ then chốt, chốt chiến dịch, hệ thống trận địa phòng không, hệ thống đường hầm, đường cơ động, căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần - kỹ thuật, trạm cảnh báo thiên tai, cụm làng, xã chiến đấu, v.v. Tham mưu cho Tỉnh rà soát, điều chỉnh, nâng cấp tuyến đường Quốc lộ số 2, các tuyến đường vành đai, đường đô thị; các dự án trồng rừng tại khu thao trường; hệ thống kênh mương thủy lợi vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời bình, vừa phục vụ cho quốc phòng, an ninh khi có tình huống xảy ra. Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo xây dựng khu vực phòng thủ và Hội đồng cung cấp; quản lý chặt chẽ lượng dự trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật sẵn sàng chiến đấu theo chỉ lệnh và kế hoạch động viên, huy động nhân lực, vật lực các ngành, đáp ứng nhu cầu bảo đảm quốc phòng cho năm đầu chiến tranh.

Cùng với đó, Tỉnh chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang địa phương: lực lượng thường trực, dự bị động viên, dân quân tự vệ có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao. Trước hết, tập trung kiện toàn lực lượng thường trực về tổ chức, biên chế theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, bảo đảm sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Các đơn vị thực hiện tốt công tác huấn luyện, bảo đảm cho bộ đội sử dụng thành thạo vũ khí, trang bị trong biên chế, giỏi về kỹ thuật, chiến thuật cá nhân và phân đội, có khả năng cơ động hiệp đồng tác chiến với các lực lượng đứng chân trên địa bàn. Trong quá trình huấn luyện, các đơn vị chú trọng kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy; đẩy mạnh thực hiện “ba đột phá”, tạo chuyển biến vững chắc về kỷ luật, nâng cao chất lượng huấn luyện, quản lý chặt chẽ vũ khí, trang bị kỹ thuật. Xây dựng, điều chỉnh bổ sung hoàn chỉnh hệ thống văn kiện sẵn sàng chiến đấu; kế hoạch phối hợp, hiệp đồng giữa lực lượng Quân sự với Công an theo Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 của Chính phủ và tổ chức huấn luyện, diễn tập chặt chẽ, đúng quy định. Tiếp tục nâng cao trình độ tổ chức, điều hành hoạt động khu vực phòng thủ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp và khả năng hiệp đồng giữa các cơ quan, ban, ngành, đơn vị, địa phương; duy trì nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực chiến, đóng quân canh phòng, chủ động nắm tình hình ngay từ cơ sở, không để bị động, bất ngờ, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.

Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đẩy mạnh hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” trong tình hình mới

 

Thấm nhuần truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” với nhiều cách làm thiết thực, hiệu quả; qua đó, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tình thần cho các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, củng cố “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

Quan tâm chăm sóc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng là chủ trương, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta; là truyền thống, đạo lý của dân tộc. Đó cũng là nghĩa vụ, trách nhiệm và niềm vinh dự của các cấp, ngành, tổ chức xã hội và mọi người, cả thế hệ hôm nay và mai sau. Thấm nhuần quan điểm đó, những năm qua, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt công tác chính sách; trong đó, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” được triển khai toàn diện cả về bề rộng và chiều sâu, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, thu hút nhiều cán bộ, công nhân viên, người lao động tích cực, tự nguyện tham gia, đạt được nhiều kết quả thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghị định của Chính phủ, hướng dẫn về công tác chính sách, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, nhất là Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng”; chính sách đối với người bị thương, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh,… các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục đã hiện thực hóa hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, hiệu quả, phù hợp với tính chất hoạt động của Ngành. Với 36 đầu mối đơn vị trực thuộc, đóng quân trải dài từ Bắc vào Nam, một số đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, còn nhiều khó khăn,... nhưng hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” luôn được toàn Ngành coi trọng, triển khai thực hiện với tất cả tấm lòng, tình cảm, sự trân trọng, biết ơn với nhiều ý nghĩa sâu sắc. Điểm nổi bật là, cùng với thực hiện các chương trình chung của Bộ Quốc phòng, Tổng cục và các đơn vị thành viên luôn tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương nơi đóng quân và các cơ quan, đơn vị liên quan, tham gia có trách nhiệm, hiệu quả các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, tạo ra phong trào và dấu ấn đậm nét trong nhân dân và xã hội.

Trong 5 năm (2018 - 2023), cán bộ, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng và người lao động trong Tổng cục đã tự nguyện đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” với số tiền trên 20,3 tỉ đồng1. Ngoài ra, các đơn vị tích cực tham gia ủng hộ trực tiếp Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” tại các địa phương trên địa bàn đóng quân hơn 03 tỉ đồng. Từ nguồn quỹ trên, các cơ quan, đơn vị đã xây dựng kế hoạch, tổ chức sử dụng công khai, minh bạch, khoa học, thiết thực. Trong đó, trích hơn 07 tỉ đồng hỗ trợ xây mới và sửa chữa 106 “Nhà Tình nghĩa”, “Nhà Đồng đội”, “Nhà Mái ấm công đoàn, nghĩa tình đồng đội” (gồm 86 nhà xây mới); tặng 172 sổ tiết kiệm với số tiền trên 1,3 tỉ đồng cho các gia đình chính sách. Vào các dịp lễ, Tết, ngày truyền thống, Tổng cục và các đơn vị đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà đối tượng chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn với số tiền gần 05 tỉ đồng. Cùng với đó, các đơn vị, nhà máy của Tổng cục đã phát huy tốt hệ thống quân y, phối hợp chặt chẽ với địa phương tổ chức khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hàng chục nghìn lượt người, góp phần nâng cao sức khỏe cho các đối tượng chính sách và nhân dân, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa; tham gia hỗ trợ địa phương tu sửa, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ với số tiền trên 2,4 tỉ đồng.

Một trong những hoạt động mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc được các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục tổ chức triển khai chặt chẽ, hiệu quả là nhận và thực hiện tốt việc chăm sóc, phụng dưỡng suốt đời 89 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (hiện nay 07 mẹ còn sống); quan tâm chăm lo thế hệ trẻ, nhất là đối với con em các gia đình chính sách. Các doanh nghiệp trong Tổng cục đã hỗ trợ cho 97 cháu là con thương binh, liệt sĩ học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; khi ra trường được nhận vào làm việc tại các doanh nghiệp trong Tổng cục. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2022), Tổng cục đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, như: phát động Phong trào thi đua cao điểm với chủ đề: “Uống nước nhớ nguồn, tri ân người có công với cách mạng”; tổ chức đoàn dâng hương, dâng hoa tri ân tại nhiều nghĩa trang liệt sĩ; thăm, tặng quà các trung tâm điều dưỡng thương, bệnh binh và thân nhân liệt sĩ đang công tác tại các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục, v.v.

Thời gian tới, để hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục lan tỏa và phát triển sâu rộng hơn nữa, Tổng cục xác định tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một làtiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, tổ chức quần chúng và cán bộ, đảng viên, công nhân viên, người lao động về hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” trong tình hình mới. Để thực hiện tốt nội dung quan trọng này, cùng với kế thừa phát huy kết quả, kinh nghiệm đã đạt được về giáo dục, tuyên truyền thời gian qua, Tổng cục tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về chế độ, chính sách đối với các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng và công tác “Đền ơn đáp nghĩa”. Trọng tâm là Nghị định số 131/2021/NĐ-CP, ngày 30/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Chỉ thị số 169-CT/QUTW, ngày 29/12/2020 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội giai đoạn 2021 – 2025. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị thường xuyên đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, người lao động luôn tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc, Quân đội và ngành Quân giới; trân trọng sự hy sinh anh dũng, những cống hiến và đóng góp to lớn của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng biết ơn các thế hệ cha anh, góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, thúc đẩy tinh thần học tập, nâng cao trình độ chuyên môn của tuổi trẻ, xây dựng và phát triển ngành Công nghiệp quốc phòng vững mạnh. Đồng thời, nêu cao nhận thức, ý thức, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái; tự giác, tích cực tham gia các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” trong toàn Tổng cục.

Hai làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”. “Đền ơn đáp nghĩa” là hoạt động thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa; là truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam, mang ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề tác động lớn đến tâm tư, tình cảm và niềm tin của các đối tượng chính sách đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Do vậy, các cơ quan, đơn vị phải xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” bảo đảm khoa học, thiết thực, hiệu quả. Kiên quyết không để xảy ra tình trạng tổ chức phô trương, hình thức, không sát địa bàn, đối tượng; gây phản cảm trong nhân dân. Đồng thời, thường xuyên bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp, tác phong trọng dân, gần dân của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác chính sách ở các cấp. Quản lý, sử dụng hiệu quả quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” và nguồn ngân sách được cấp đúng tiêu chuẩn, chế độ quy định; không để thất thoát, lãng phí, sử dụng sai mục đích. Cùng với đó, kết hợp chặt chẽ hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” với các cuộc vận động, phong trào thi đua, nhất là Phong trào “Toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công”; Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chế độ, chính sách của cơ quan, đơn vị; kịp thời phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu, có nhiều thành tích đóng góp trong các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”.

Ba làvận dụng linh hoạt, sáng tạo nội dung, phương pháp, hình thức thực hiện hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”. Hiện nay, “Đền ơn đáp nghĩa” đã trở thành hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị, địa phương, trong đó có Tổng cục Công nghiệp quốc phòng. Tuy nhiên, muốn hoạt động này đạt được hiệu quả và ý nghĩa thiết thực, tạo sự lan tỏa sâu rộng,... Tổng cục cần bám sát tình hình thực tiễn, nhất là về đời sống, tâm tư, tình cảm,... của các đối tượng thụ hưởng để tổ chức những mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, phù hợp với tính chất, nhiệm vụ đặc thù của Ngành. Song, dù ở quy mô, cấp độ nào; là vật chất hay tinh thần đều phải được tổ chức chặt chẽ và tình cảm chân thành, lòng biết ơn, trân quý đối với những cống hiến, hy sinh của thế hệ đi trước. Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với cấp ủy và chính quyền địa phương nơi đóng quân, quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, nhất là những nơi còn nhiều khó khăn, gia đình chính sách ở vùng sâu, vùng xa, căn cứ địa cách mạng, v.v. Sự tri ân tốt nhất với các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh binh, người có công với cách mạng chính là phải góp phần đưa đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chăm lo xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở đó, các đơn vị tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tạo cơ sở quan trọng để có điều kiện vật chất, ủng hộ kinh phí hỗ trợ xây tặng “Nhà Tình nghĩa”, “Nhà Đồng đội”; tặng công cụ sản xuất, giống, vốn, sổ tiết kiệm,… cho các đối tượng chính sách và người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn; hỗ trợ tu sửa, tôn tạo các công trình ghi công liệt sĩ, gia đình có người bị thương, hy sinh trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, v.v. Chủ động rà soát, kịp thời phát hiện những nội dung vướng mắc, khó khăn, bất cập; những hình thức không còn phù hợp hoặc hiệu quả thấp để điều chỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”.

Với trách nhiệm chính trị cao của cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, công nhân viên, chiến sĩ, người lao động, hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, bảo đảm chăm sóc ngày càng tốt hơn đời sống các đối tượng chính sách và người có công với cách mạng, góp phần xây dựng tiềm lực chính trị tinh thần trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tỉnh Hà Tĩnh thực hiện tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, hậu phương Quân đội


Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, người có công,... và hậu phương Quân đội là những hoạt động mang nghĩa cử cao đẹp, thể hiện truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, được Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Hà Tĩnh quan tâm, chung sức thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả thiết thực, thể hiện tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc.

Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống cách mạng; là một trong những địa phương có đóng góp lớn cùng cả nước làm nên thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Hà Tĩnh vừa là tiền tuyến vừa là hậu phương trực tiếp, chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và là vùng trọng điểm phá hoại của đế quốc Mỹ. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Hà Tĩnh đã phát huy sức mạnh tổng hợp, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu, khai thông những tuyến đường huyết mạch, vận chuyển người, vũ khí kịp thời cho tiền tuyến chiến đấu giành thắng lợi. Phát huy truyền thống “Máu có thể đổ, đường không thể tắc”, “Sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Xe chưa qua, nhà không tiếc”,... Hà Tĩnh đã góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của dân tộc. Bên cạnh những đóng góp to lớn đó, Hà Tĩnh cũng chịu nhiều hy sinh, mất mát cũng như những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại. Với sự cống hiến, hy sinh của toàn thể Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân trong Tỉnh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì sự trường tồn của dân tộc, Hà Tĩnh là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về số lượng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân cả nước ghi nhận, tri ân và dành sự quan tâm đặc biệt1.

Thấm nhuần sâu sắc truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, những năm qua, lãnh đạo, chính quyền tỉnh Hà Tĩnh  luôn quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về thương binh, liệt sĩ, người có công, chính sách hậu phương Quân đội. Trên cơ sở đó, Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp thực hiện công tác chính sách và hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” sát với thực tiễn địa phương, thu được kết quả đáng khích lệ. Nổi bật là, tiến hành rà soát, thẩm định hồ sơ, giải quyết chính xác, kịp thời chế độ đối với người có công, người tham gia kháng chiến và các trường hợp tồn đọng về chính sách sau chiến tranh; kiểm tra, xác minh, kết luận rõ hồ sơ thương binh, liệt sĩ, bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch, đúng đối tượng, khắc phục có hiệu quả những vướng mắc, phát sinh trong tổ chức thực hiện. Tỉnh tích cực vận động các cơ quan, đơn vị, nhà hảo tâm đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, Quỹ “Vì người nghèo”; hỗ trợ gia đình quân nhân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, gia đình gặp thiên tai, dịch bệnh, người mắc bệnh hiểm nghèo; tu sửa, nâng cấp nghĩa trang, chăm sóc mộ liệt sĩ; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Từ năm 2016 đến nay, các địa phương trong Tỉnh hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 49 “Nhà tình nghĩa”, “Nhà đồng đội”; khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho gần 2.000 lượt đối tượng; thăm hỏi, tặng quà gia đình chính sách, người có công, tặng sổ tiết kiệm cho thân nhân của liệt sĩ,… với tổng số tiền hơn 10 tỉ đồng; chi trả gần 211 tỉ đồng cho gần 92.000 người tham gia kháng chiến và dân công hỏa tuyến; 100% thân nhân của quân nhân được cấp thẻ bảo hiểm y tế và thụ hưởng đầy đủ chế độ khám, chữa bệnh, v.v. Hằng năm, Tỉnh tặng hàng nghìn suất quà vào dịp lễ, Tết và tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa, như: gặp mặt, thăm hỏi, tặng quà cựu chiến binh, thương binh, thân nhân liệt sĩ, đối tượng chính sách; dâng hương nghĩa trang liệt sĩ. Đặc biệt, từ năm 2021 đến nay, toàn Tỉnh đã huy động hỗ trợ xây dựng mới 4.096 nhà ở cho người có công, hộ khó khăn với tổng kinh phí hơn 392 tỉ đồng. Tri ân các liệt sĩ hy sinh năm 2020 tại Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337, Tỉnh kịp thời tặng 06 sổ tiết kiệm trị giá 600 triệu đồng cho các gia đình; hỗ trợ xây dựng 06 nhà tình nghĩa và tuyển dụng thân nhân vào công tác trong Quân đội, v.v. Thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ giai đoạn 2013 - 2020, Tỉnh đã tiếp nhận, xác minh hàng nghìn thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ; hoàn chỉnh danh sách 2.241 liệt sĩ, lập bản đồ mộ liệt sĩ tại các địa phương; tổ chức khảo sát, tìm kiếm, quy tập được 185 hài cốt liệt sĩ trong và ngoài nước. Những kết quả đó là nguồn động viên to lớn về vật chất, tinh thần đối với các đối tượng chính sách, người có công, góp phần xoa dịu nỗi đau chiến tranh, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân vào cấp ủy, chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương.

Thời gian tới, tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tỉnh tiếp tục khó khăn do bị ảnh hưởng sau đại dịch Covid-19, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp; việc huy động bố trí nguồn lực cho thực hiện chế độ, chính sách xã hội còn hạn hẹp; thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ ngày càng khó khăn hơn,... tác động không nhỏ tới việc thực hiện công tác chính sách trên địa bàn. Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ, hậu phương Quân đội và hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, cấp ủy, chính quyền, lực lượng vũ trang trong Tỉnh cần tiếp tục thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp đối với công tác thương binh, liệt sĩ và chính sách hậu phương Quân đội. Trên cơ sở quán triệt các thông tư, hướng dẫn của cấp trên, Tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách cho các đối tượng thụ hưởng; hoàn thành cơ sở dữ liệu liệt sĩ, lập bản đồ, quy tập hài cốt liệt sĩ; huy động tốt nhất các nguồn lực để giúp đỡ đối tượng có hoàn cảnh khó khăn; giải quyết dứt điểm chính sách tồn đọng sau chiến tranh; nâng cao hiệu quả phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, v.v. Trong tình hình hiện nay, để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác chính sách, cùng với đẩy mạnh nghiên cứu, ban hành các chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn đối với công tác này, cần chú trọng kiện toàn Ban Chỉ đạo về giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công; Ban Chỉ đạo về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; lãnh đạo, chỉ đạo địa phương thành lập các ban chỉ đạo, hội đồng chính sách xã (phường, thị trấn), tạo sự đồng thuận, thống nhất trong triển khai thực hiện. Quá trình thực hiện, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý, nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện và giải quyết vướng mắc nảy sinh; định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm; kiên quyết khắc phục những hạn chế, nhất là những vi phạm trong thực hiện chế độ, chính sách.

Hai làđẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, vai trò của công tác chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng và chính sách hậu phương Quân đội. Để làm được điều đó, cần tiếp tục phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong đẩy mạnh tuyên truyền về hiệu quả các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” và quá trình thực hiện các chế độ, chính sách trên địa bàn. Trong đó, cần đi sâu làm rõ nội dung cơ bản được thể hiện trong các quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với dân công hỏa tuyến và người tham gia kháng chiến; Chỉ thị số 169-CT/QUTW, ngày 29/12/2020 của Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác chính sách đối với Quân đội và hậu phương Quân đội giai đoạn 2021 - 2025; các chính sách mới ban hành, điều chỉnh cùng những thuận lợi, khó khăn trong tổ chức thực hiện, v.v. Qua đó, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, phát huy tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và nhân dân, thực hiện có hiệu quả chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng và chính sách hậu phương Quân đội.

Ba làphát huy vai trò nòng cốt của cơ quan chức năng trong tổ chức thực hiện. Theo đó, cơ quan quân sự các cấp cần tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng và đoàn thể địa phương xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện tốt công tác quan trọng này theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trước mắt, cùng với làm tốt các hoạt động thăm, tặng quà các đối tượng chính sách; lập hồ sơ xét duyệt và đề nghị giải quyết chế độ thương binh, liệt sĩ chặt chẽ, khoa học, các cơ quan chức năng cần phối hợp, rà soát, giải quyết kịp thời những vướng mắc về chế độ, chính sách; tập trung xét duyệt và giải quyết dứt điểm chính sách tồn đọng sau chiến tranh; chi trả chế độ cho người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế; phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng. Phối hợp dạy nghề, giới thiệu việc làm cho thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, công an, v.v. Về lâu dài, cấp uỷ, chính quyền các địa phương cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt nhiều hình thức hoạt động, phát triển mô hình hay, cách làm sáng tạo, từng bước “xã hội hóa” hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa” và kết hợp chặt chẽ công tác này với các chương trình xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, các phong trào thi đua, “Toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công”, “Dân vận khéo”.

Bốn làtiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Thực tiễn cho thấy, công tác chính sách nói chung, việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên địa bàn nói riêng sẽ ngày càng khó khăn, bởi thời gian đã lùi xa và những thông tin liên quan cũng mờ nhạt và ít dần. Vì thế, Tỉnh cần tích cực huy động các nguồn lực, tập trung rà soát, bổ sung hoàn thiện cơ sở dữ liệu về liệt sĩ, mộ liệt sĩ; tăng cường thu thập, xác minh thông tin liệt sĩ. Phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo 515 của Tỉnh, các cơ quan chuyên môn, nòng cốt là cơ quan quân sự các cấp và đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Các cơ quan chuyên môn tập trung xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện tốt công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trong và ngoài nước, nhất là các địa bàn trọng điểm giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại quốc phòng, phối hợp với các địa phương Bô-ly-Khăm-xay, Khăm-muộn, Thủ đô Viêng-chăn trong công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ bên nước bạn Lào. Thực hiện tiếp nhận, an táng đúng quy định, khoa học, phù hợp với phong tục, tập quán địa phương; kiên quyết không để xảy ra sai sót.

Cùng với đó, Tỉnh tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách ứng xử,... xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác chính sách đủ về số lượng, chất lượng ngày càng cao, có tâm, có tầm; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý công tác chính sách, bảo đảm công khai, minh bạch, thống nhất, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Bàn giao “Nhà Đoàn kết quân dân” xã biên giới

 

Ngày 25/7, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Đắk Lắk phối hợp với các đơn vị quân đội gồm Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk, Công ty TNHH MTV Cà phê 15 (Quân khu 5), Công ty Bảo hiểm MIC Tây Nguyên, Trung đoàn 728 (Binh đoàn 16), Công ty 789 chi nhánh Tây Nguyên và cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức khánh thành và bàn giao “Nhà Đoàn kết quân dân” cho gia đình hộ nghèo tại xã Ia Rvê, huyện Ea Súp.

Sau hơn 4 tháng thi công, công trình “Nhà Đoàn kết quân dân” cho gia đình ông Phan Thanh Sang (SN 1966) được hoàn thiện với diện tích gần 70 m2, có tổng kinh phí 210 triệu đồng. Trong đó, 100 triệu đồng do cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội đóng góp, số tiền còn lại do gia đình, người thân hỗ trợ; cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ia Rvê hỗ trợ ngày công xây dựng.

Gia đình ông Nguyễn Thanh Sang là hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở, hai vợ chồng thường xuyên đau ốm, không có việc làm ổn định, nhiều năm qua phải sống trong căn nhà gỗ đã xuống cấp nghiêm trọng nhưng không có điều kiện sửa chữa và xây mới.

Phát biểu tại lễ bàn giao, đại diện các đơn vị Quân đội, Đại tá Đỗ Quang Thấm - Phó Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk nhấn mạnh: Những năm qua, cùng với nỗ lực của cấp ủy, chính quyền địa phương, các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã có nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực hướng về biên giới. Trong đó, triển khai nhiều mô hình, việc làm giúp Nhân dân phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, các đơn vị quân đội cũng đã triển khai xây dựng và trao tặng nhiều ngôi nhà như “Mái ấm biên cương”, các công trình “Đoàn kết quân dân” ở khu vực biên giới. 

Qua đó, thể hiện được tình cảm, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ quân đội đối với đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới, cũng như chia sẻ với những khó khăn của Nhân dân và giúp Nhân dân ổn định cuộc sống gắn bó với biên cương và cùng với các đơn vị quân đội nói chung và BĐBP nói riêng bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Nhân dịp này, các đơn vi quân đội và chính quyền địa phương đã trao tặng nhiều phần quà, các trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cho gia đình ông Phan Thanh Sang.

Thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự trong tình hình mới

 

Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển tất yếu của dân tộc - bài học truyền thống quý báu của tổ tiên ta trong lịch sử. Tuân thủ quy luật và kế thừa bài học truyền thống đó, Đảng ta đã vận dụng, phát triển thành hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó bảo vệ Tổ quốc là điều kiện, tiền đề quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, văn bản làm cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) và Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là một trong hai chiến lược cơ bản, quan trọng hàng đầu của đất nước, đồng thời là chiến lược quốc gia bao trùm, văn bản pháp lý nền tảng mang tính chỉ đạo chiến lược đối với việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược chuyên ngành1.

 Cụ thể hóa Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Chính trị (khóa XII) đã thông qua và ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/4/2018 về Chiến lược quốc phòng Việt Nam; Kết luận số 31-KL/TW, ngày 16/4/2018 về Chiến lược quân sự Việt Nam. Việc ban hành nghị quyết, kết luận về Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự nhằm tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là bước phát triển mới về tư duy, nhận thức của Đảng đối với công cuộc bảo vệ đất nước.

Chiến lược quốc phòng Việt Nam là chiến lược phòng thủ quốc gia, bảo vệ đất nước, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược; mang tính chất hoà bình tự vệ, bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; trong đó, đường lối chính trị đúng đắn là nhân tố quyết định, sức mạnh quốc phòng là then chốt, sức mạnh quân sự là đặc trưng, trực tiếp là sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội nhân dân; xây dựng, củng cố lòng tin chiến lược với các nước, nhất là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, tạo thế để bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Chiến lược quân sự Việt Nam là nội dung nòng cốt, cụ thể hóa Chiến lược quốc phòng Việt Nam, là nghệ thuật sử dụng sức mạnh quân sự trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; bộ phận chủ đạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam; chỉ đạo nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật; là tổng thể phương châm, chính sách và mưu lược hoạch định trên nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân...

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành hệ thống chiến lược nhằm mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống và sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược. Trong đó, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc là chiến lược tổng thể quốc gia mang tính bao trùm, giữ vai trò chỉ đạo toàn diện hai chiến lược còn lại; Chiến lược quốc phòng và Chiến lược quân sự là hai chiến lược quốc gia chuyên ngành, hiện thực hóa và phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Triển khai thực hiện các chiến lược, thời gian qua, Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang, nòng cốt là Quân đội đã tổ chức quán triệt, thực hiện đồng bộ, quyết liệt giải pháp đưa nội dung các chiến lược vào hoạt động thực tiễn, nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc, tập trung xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng, nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, triển khai chiến lược quốc phòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ôn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo, chiến tranh quy mô lớn ít có khả năng xảy ra nhưng cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ có thể diễn ra gay gắt hơn; cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp; đặc biệt, xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, làm thay đổi môi trường chiến lược, tác động sâu sắc, toàn diện tới Việt Nam. Trong nước, thế, lực và sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được củng cố, nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ngày càng công khai, quyết liệt và trực diện hơn. Để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần tiếp tục quán triệt, thực hiện hiệu quả hơn nữa các chiến lược trên, trong đó, tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, chúng ta phải thấy rằng, nhận thức đúng thì hành động sẽ khoa học, hiệu quả; trách nhiệm tốt thì kết quả bảo vệ Tổ quốc sẽ cao; đồng thời, tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Bác Hồ đã dạy: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc. Dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúng cũng phải thất bại”2. Các cấp, các ngành, các địa phương, nhất là lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân đội cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho cả hệ thống chính trị và toàn dân nhận thức sâu sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, của đất nước, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung cụ thể hóa mục tiêu, quan điểm, phương châm, phương thức, nguyên tắc, nhiệm vụ, giải pháp của các chiến lược làm cơ sở để vận dụng phù hợp với đặc điểm, điều kiện, nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Trên cơ sở nhận thức đúng, làm cho cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và toàn dân nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây chính là thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”. Đồng thời, nhận thức được mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiệm vụ của cách mạng, đất nước, Quân đội; âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch,… từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, trách nhiệm đối với sự nghiệp giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ địa bàn và chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, phát huy sức mạnh của hệ thống cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình từ Trung ương tới cơ sở; đẩy mạnh tuyên truyền trong hệ thống học viện, nhà trường trong và ngoài Quân đội cùng các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể địa phương; coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, làm cơ sở để đội ngũ này tuyên truyền, giáo dục cho toàn dân. Cùng với đó, cần tích cực đấu tranh với những tư tưởng, nhận thức lệch lạc, coi trọng nhiệm vụ phát triển kinh tế, xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là tư tưởng cho rằng trong thời bình không cần xây dựng lực lượng vũ trang, Quân đội, nền quốc phòng toàn dân, gây tốn kém cho nền kinh tế đất nước,… dẫn đến mất cảnh giác, mắc mưu các thế lực thù địch, phản động.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong thực hiện các chiến lược.

Trên cơ sở nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của các chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, cấp ủy, người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả các chiến lược, nhằm đạt được mục tiêu đề ra là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Cần chú trọng quán triệt, vận dụng đúng đắn mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá và tư tưởng chỉ đạo, phương châm, nguyên tắc, phương thức tiến hành các chiến lược vào nghị quyết lãnh đạo nhiệm kỳ và hằng năm bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị mình làm cơ sở để tổ chức thực hiện. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị, Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/02/2019 của Chính phủ về xây dựng khu vực phòng thủ; Luật quốc phòng, Sách trắng Quốc phòng, Luật giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật nghĩa vụ quân sự... Tăng cường các biện pháp quản lý nhà nước về quốc phòng, bảo đảm các hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đúng phương hướng chính trị của đất nước, theo tư duy, nhận thức mới của Đảng, đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp quốc tế và đạt hiệu quả thiết thực. Tiếp tục hoàn thiện vả tổ chức thực hiện có chiều sâu các cơ chế, quy chế, thông tư, văn bản, hướng dẫn, quy định dưới luật, nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, quan điểm quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng trong thực tiễn, bảo đảm cho nội dung của các chiến lược đi vào cuộc sống, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn, Tổ quốc trong mọi tình huống.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang, trực tiếp là Quân đội nhân dân trong tổ chức thực hiện các chiến lược.

Công tác quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp chung của cả hệ thống chính trị và toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt và Quân đội là lực lượng chủ yếu, trực tiếp. Trong bối cảnh tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực diễn biến phức tạp hiện nay, nhất là việc tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông, cùng sự chống phá quyết liệt của cả các thế lực thù địch, đòi hỏi phải phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân, trọng tâm là Quân đội nhân dân. Trên cơ sở bám sát chức năng, nhiệm vụ, Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc nội dung các chiến lược, phối hợp với các lực lượng liên quan nắm chắc tình hình thế giới, khu vực, trong nước, dự báo chính xác xu hướng vận động, phát triển của tình hình, tham mưu cho Đảng, Nhà nước các đối sách, giải pháp chiến lược, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu của các chiến lược đề ra; xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trong đó, tập trung vào những khu vực, địa bàn trọng điểm về quốc phòng, an ninh, nhất là khu vực biên giới, biển, đảo. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đặc biệt là cơ quan quân sự các cấp cần phát huy vai trò nòng cốt, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng khu vực phòng thủ, xác định các biện pháp giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc địa bàn.

Trong giai đoạn hiện nay, các đảng bộ trực thuộc Trung ương đang tiến hành đại hội nhiệm kỳ 2020 - 2025, tiến tới Đại hội XIII của Đảng, toàn quân cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, duy trì nghiêm các chế độ, nền nếp sẵn sàng chiến đấu; tiếp tục rà soát quyết tâm, phương án, kế hoạch sẵn sàng chiến chiến đấu, phòng, chống cháy nổ, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng xử lý thắng lợi các tình huống. Đặc biệt, cần tập trung xây dựng, tổ chức luyện tập chặt chẽ, nghiêm túc phương án, kế hoạch bảo vệ Đại hội Đảng các cấp, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an theo Nghị định 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Công an và Quân đội trong bảo vệ an ninh quốc gia,… quyết tâm bảo vệ an toàn tuyện đối đại hội đảng các cấp - nhiệm vụ chính trị trọng tâm trong năm của Đảng, các cấp, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và toàn dân. Toàn quân đề cao cảnh giác, nắm chắc tình hình, phát hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới, lãnh thổ của Tổ quốc. Tiếp tục tổ chức xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó có một số lực lượng được đầu tư tiến thẳng lên hiện đại, đảm bảo cho Quân đội ta có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đúng chủ trương tinh, gọn bộ máy của Trung ương, phù hợp với khả năng, điều kiện của đất nước, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Bốn là, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn luôn vận động, biến đổi, do vậy, chúng ta cần chú trọng làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Thông qua tổng kết thực tiễn trong quá trình triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần bổ sung, phát triển lý luận ở trình độ cao hơn, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trên cơ sở đó quay trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn mang lại hiệu quả thiết thực. Đối với Chiến lược bảo vệ Tô quốc, Trung ương đã tổng kết, đánh giá 10 năm thực hiện Nghị Quyết Trung ương 8 (khóa IX) từ 2003 - 2013 và ban hành Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), tới đây, chúng ta tiếp tục tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về vấn đề này. Đối với Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, đây là hai chiến lược mới nên các cơ quan tham mưu chiến lược của Bộ Quốc phòng, nhất là Viện Chiến lược Quốc phòng, Cục Tác chiến, Cục Dân quân tự vệ,... chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, nhà trường trong toàn quân, cơ quan quân sự các cấp tham mưu cho các bộ, ngành, địa phương, tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng hằng năm và cả giai đoạn, làm cơ sở để Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng, Nhà nước tổ chức tổng kết thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng về các chiến lược ở cấp Trung ương. Nội dung tổng kết toàn diện, trong đó tập trung vào nhận thức, tư duy về bảo vệ Tổ quốc; hoạt động quân sự, quốc phòng; xây dựng, hoạt động của khu vực phòng thủ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân; nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân; nghệ thuật quân sự; đối tượng, đối tác, v.v. Trong quá trình thực hiện, chú ý tính toàn diện, sâu sắc, nghiêm túc; đánh giá trung thực, khách quan; chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, yêu cầu, phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, khâu đột phá cho giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả cao hơn.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự là kế sách, mưu lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; là kết tinh truyền thống dân tộc với ý Đảng, lòng dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chiến lược này là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, nòng cốt là lực lượng vũ trang trước Tổ quốc; góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao khả năng phòng thủ đất nước, sẵn sàng đánh thắng mọi hình thái chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.


_____________________

1 - Hai chiến lược cơ bản gồm: Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội và Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc. Các chiến lược chuyên ngành gồm: Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược An ninh, Chiến lược Đối ngoại và chiến lược chuyên ngành thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội.

2 - Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 179.

Tổ chức các hoạt động kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ trang trọng, thiết thực, hiệu quả

 Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2023).

Mục đích, yêu cầu của Kế hoạch là nhằm tuyên truyền, tổ chức thực hiện đồng bộ chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, huy động nguồn lực trong xã hội góp phần thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác ưu đãi người có công với cách mạng.

Các hoạt động kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ được tổ chức trang trọng, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế; phân công rõ trách nhiệm các cơ quan, đơn vị trong tổ chức, triển khai thực hiện.

Kế hoạch đề cập tới nhiều hoạt động trọng tâm, cụ thể như sau:

Tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 27/7/2023 tại Hà Nội.

Hội nghị biểu dương người có công với cách mạng tiêu biểu toàn quốc năm 2023 từ ngày 21-22/7/2023 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp các đơn vị như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Báo Nhân Dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

Tổng số đại biểu người có công với cách mạng là 300 người. Trong đó, ưu tiên mời khoảng 60 đại biểu là cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến.

Tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc vào 20 giờ ngày 26/7/2023. Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì. Các đơn vị phối hợp gồm: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các địa phương.

Tổ chức thăm hỏi, tặng quà người có công, thân nhân người có công với cách mạng tại các địa phương và các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng trong tháng 7/2023. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, các địa phương phối hợp.

Vận động Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương trong tháng 6/2023 do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì. Đơn vị phối hợp là Ban Quản lý Quỹ Đền ơn đáp nghĩa Trung ương, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Hiện nay, có gần 1,2 triệu người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng. Tính đến tháng 7/2022, toàn quốc đã xác nhận được hơn 9,2 triệu người có công.

Về tổ chức thực hiện, căn cứ điều kiện cụ thể, các hoạt động tổ chức kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ bảo đảm trang trọng, ý nghĩa, thiết thực, hiệu quả, phù hợp tình hình thực tế.

Tại Trung ương, căn cứ Kế hoạch này, các bộ, ngành, cơ quan liên quan chủ động, tích cực triển khai thực hiện Kế hoạch theo các nhiệm vụ được phân công, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp các đơn vị, xây dựng Kế hoạch mời các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đi thăm hỏi, tặng quà gia đình người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ, các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng.

Cơ quan này cũng theo dõi, đôn đốc, phối hợp các bộ, ban, ngành, cơ quan liên quan và địa phương triển khai thực hiện nhiệm vụ được nêu trong Kế hoạch; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

Tại địa phương, chỉ đạo tổ chức việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ ưu đãi; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng chính sách ưu đãi người có công để trục lợi.

Các địa phương cũng xây dựng kế hoạch và biện pháp cụ thể, thiết thực để gia đình có công với cách mạng có mức sống cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú; hỗ trợ người có công có khó khăn về nhà ở; xóa hộ nghèo có thành viên là người có công. Cùng với đó, tập trung tu bổ, sửa chữa, nâng cấp, chăm sóc các công trình ghi công liệt sĩ (nghĩa trang liệt sĩ, đài tưởng niệm liệt sĩ, đền thờ liệt sĩ, nhà bia ghi tên liệt sĩ) và mộ liệt sĩ.

Căn cứ điều kiện cụ thể, tổ chức các hoạt động phù hợp để tri ân người có công với cách mạng và gia đình liệt sĩ. Tổ chức các đoàn thăm hỏi, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng trước kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ theo đúng kế hoạch. Sau đó, tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội.

Trước đó, năm 2020, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2021.

Pháp lệnh có nhiều điểm mới, hướng tới nâng cao chế độ ưu đãi và mở rộng số người hưởng ưu đãi cho người có công với cách mạng đã tạo điều kiện để người có công nỗ lực vượt lên khó khăn, ổn định cuộc sống, đồng thời tạo môi trường thuận lợi để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tích cực vào công tác "Đền ơn đáp nghĩa".

Sau 76 năm thực hiện chính sách ưu đãi người có công, các chính sách, chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và gia đình người có công với cách mạng đã được nghiên cứu, bổ sung và điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.

Theo đó, các chế độ ưu đãi được thực hiện đa dạng gồm trợ cấp, phụ cấp hằng tháng, trợ cấp một lần và các chế độ ưu đãi khác như: hỗ trợ y tế, giáo dục, trang cấp dụng cụ chỉnh hình, phục hồi chức năng, tạo việc làm, hỗ trợ, cải thiện nhà ở, miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, vay vốn kinh doanh và miễn hoặc giảm thuế. Tùy từng đối tượng người có công, có các chính sách chăm sóc đặc thù như: Chính sách trợ cấp người phục vụ đối với Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên, bệnh binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên sống ở gia đình…

Họ cũng được chăm sóc với nhiều hình thức đa dạng như tại gia đình, cộng đồng, các cơ sở y tế và các trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng.

Hiện nay có gần 1,2 triệu người có công đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng.

Tính đến tháng 7/2022, toàn quốc đã xác nhận được hơn 9,2 triệu người có công.

Hơn 9,2 triệu người có công trên cả nước gồm:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945: gần 9.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.

+ Liệt sĩ: gần 1,2 triệu người; thân nhân liệt sĩ gần 500.000 người.

+ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng: hơn 139.000 người.

+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động: gần 1.300 người.

+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người.

+ Bệnh binh: gần 185.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 320.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.

+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế: gần 4,1 triệu người.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa thăm, tặng nhà tình nghĩa tại tỉnh Bến Tre

 Chiều 24/7, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, cùng đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương có chuyến thăm, làm việc và tặng nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách tại tỉnh Bến Tre.

iếp và làm việc với đoàn có Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lê Đức Thọ; Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hồ Thị Hoàng Yến, các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa thay mặt đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương bày tỏ niềm vui mừng, phấn khởi và xúc động khi về thăm tỉnh Bến Tre - nơi có truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng và có nhiều thành tích trong thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, tỉnh Bến Tre có sự vươn lên phát triển rất phấn khởi. Tuy nhiên, tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là sự hy sinh mất mát trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Sau chiến tranh, Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà, nhân dân vùng sâu, vùng xa dù có cố gắng nhưng bước phát triển chung so với mặt bằng các tỉnh bạn còn nhiều hạn chế nhất định.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết, nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2023), đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt quan tâm đặc biệt và phân công các đồng chí lãnh đạo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các bộ ngành Trung ương thăm, động viên, tri ân các gia đình chính sách tại các địa phương. Theo đó, cùng với việc sử dụng ngân sách nhà nước, có sự đồng hành của các mạnh thường quân, nguồn lực xã hội, nhà hảo tâm để thăm, động viên đồng bào. Đây là chủ trương kịp thời trong bối cảnh nước ta đang phục hồi phát triển kinh tế - xã hội.


Thay mặt lãnh đạo đảng, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa chúc tỉnh Bến Tre tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương Đồng Khởi anh hùng, tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt là xây dựng khối đại đoàn kết ở địa phương và giành nhiều thành tựu mới góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh nhà.

Chia sẻ tại buổi làm việc, thay mặt Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre cảm ơn đồng chí Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đoàn công tác đã tới thăm và làm việc, đồng thời

Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre cho biết, hiện tỉnh đang nỗ lực triển khai thực hiện các nội dung, mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 - 2025. Tỉnh đã tổ chức sơ kết giữa nhiệm kỳ và cũng đã, đang nỗ lực triển khai những nội dung đã được sơ kết trong nửa nhiệm kỳ vừa qua, để đến cuối nhiệm kỳ cố gắng đạt mức tốt nhất các chỉ tiêu Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh đặt ra. Đồng thời, tạo đà tiếp tục phát triển trong các giai đoạn tiếp theo.

Bên cạnh việc chăm lo phát triển về công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại địa phương cũng phát huy truyền thống cách mạng, thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và chăm lo cho các gia đình chính sách.

Bến Tre hiện nay có số lượng các gia đình chính sách, gia đình có công với đất nước, các đồng chí thương binh, bệnh bệnh, các mẹ Việt Nam anh hùng rất lớn, đứng thứ 2 của cả nước về số bà mẹ Việt Nam anh hùng; đứng thứ 2 của cả nước về số lượng chiến sĩ hy sinh trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Thời gian qua tỉnh thực hiện chính sách an sinh xã hội là rất tốt, bên cạnh sự nỗ lực của tỉnh, còn có sự quan tâm lãnh, chỉ đạo ủng hộ và tham gia đóng góp rất lớn của các bộ, ngành Trung ương, cũng như các mạnh thường quân, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre cũng cho biết, năm nay, tỉnh có kế hoạch chi tiết, cụ thể phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các cấp, ngành và địa phương đến thăm hỏi, động viên các gia đình chính sách, gia đình thương binh liệt sĩ, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam.

Sắp tới, tỉnh sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu để xây dựng Đảng bộ, Chính quyền và tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, đoàn kết thống nhất, để đạt được nhiều kết quả trong mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Đáp ứng yêu cầu phát triển mới, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cùng góp phần thực hiện tốt chính sách chăm lo cho gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân, cũng như đóng góp chung vào sự phát triển của cả nước. Tỉnh Bến Tre mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm của các bộ, ngành Trung ương, tạo điều kiện để giúp tỉnh phát triển.

Dịp này, trong khuôn khổ Chương trình Màu hoa đỏ năm 2023 do Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, giao cho Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa và Đoàn công tác đã trao tặng 9 căn nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách, khó khăn về nhà ở tại tỉnh Bến Tre nhân dịp kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2023). Tổng kinh phí xây dựng nhà tình nghĩa khoảng 720 triệu đồng do Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất tài trợ 4 căn và chương trình Màu hoa đỏ (Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam) tài trợ 5 căn.


* Trước đó, Bí thư Trung ương Đảng - Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa làm trưởng đoàn cũng đã đến thăm, tặng quà Đại tướng Lê Văn Dũng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tham dự cùng đoàn có Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hồ Thị Hoàng Yến; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ; Thủ trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh.

Tại nhà riêng của Đại tướng Lê Văn Dũng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đã ân cần thăm hỏi, gửi lời chúc sức khỏe và chúc mừng tốt đẹp đến Đại tướng Lê Văn Dũng và gia đình. Mong muốn Đại tướng sống khoẻ, luôn theo dõi, tiếp tục quan tâm và đóng góp các ý kiến quý báu vào sự phát triển, trưởng thành của Quân đội để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nói chung và lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre nói riêng luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


Đại tướng Lê Văn Dũng cảm ơn đoàn công tác, trực tiếp là cá nhân Trưởng ban Tuyên Giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa đã đến thăm, tặng quà và chia sẻ nhiều thông tin quan trọng. Đại tướng vui mừng trước những kết quả của Quân đội đã đạt được và mong rằng thời gian tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục nỗ lực phấn đấu, phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong tình hình mới./.